[Xét nghiệm] Xét nghiệm APTT

APTT

Tác giả: Trương Bích Liễu

1. Tên : Thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần ( Activated Partial Thromboplastin Time)

Thromboplastin (TPL), còn gọi là Thrombokinase là một hỗn hợp gồm phospholipid và yếu tố xúc tác cho quá trình chuyển Prothrombin thành thrombin để tạo thành cục đông.

Tên gọi Activated Partial Thromboplastin Time (APTT) được xuất phát từ cách thức thực hiện đầu tiên của này (được giới thiệu vào năm 1953): người ta chỉ kiếm soát nồng độ của phospholipid (đối kháng lại với nồng độ phospholipid và các hoạt hóa bề mặt). Tên gọi “Partial Thromboplastin” được áp dụng trong thời điểm chuẩn bị phospholipid – một làm tăng đông nhưng không điều chỉnh được thời gian đông bị kéo dài ở những bị Hemophilia.

Về bản , thuật ngữ “Partial” chỉ sự hiện diện của phospholipid mà không có sự hiện diện của yếu tố .

2. Nguyên lý:

Huyết tương nghèo tiểu cầu (PPP) được ủ ở 37oC khoảng 2 – 10 phút, sau đó cho phospholipid (cephalin) và hoạt hóa tiếp xúc (Kaolin, hạt silica hoặc ellagic acid) vào. Quá trình này dẫn tới việc chuyển đổi yếu tố XI thành yếu tố Xia nhưng phần còn lại của đường đông vẫn chưa được kích hoạt vì không có canxi. Việc thêm canxi vào sẽ khởi động quá trình đông . APTT là thời gian được tính từ lúc thêm canxi vào đến khi hình thành cục đông.

3. :

Huyết tương nghèo tiểu cầu [PPP] được ủ ở 37 ° C với phospholipid (cephalin) và một hoạt hóa tiếp xúc (ví dụ Kaolin). Sau đó thêm canxi (tất cả được làm ấm trước đến 37 ° C). Việc bổ sung canxi sẽ khởi động đông và thời gian bắt đầu được tính. APTT là thời gian cần thiết để một cục đông hình thành. Thời gian ủ từ 2 – 10 phút.

4. Chuẩn bị mẫu:

-Chuẩn bị : không cần phải nhịn ăn trước khi lấy , có thể lấy ở bất kỳ thời điểm nào trong ngày

Chuẩn bị lấy mẫu:

Mẫu được chống đông bằng sodium citrate 3.2% theo tỉ lệ 1 thể tích chống đông: 9 thể tích .

Dây garo được gắn cách vị trí đâm kim khoảng 4 inch (tương đương 10cm). Không để dây garo quá 1 phút. Ưu tiên kim 19 – 21 gauge. Trong một số trường hợp được lấy bằng kiêm bướm hoặc catheter hoặc để sử dụng làm PFA-100 thì cho vào một ống khác trước khi cho vào ống sodium citrate. Lắc đảo ống nghiệm để trộn đều với chống đông tối thiểu 2 lần(có tài liệu ghi 8 lần). Khu vực xung quanh tĩnh mạch chỗ lấy phải nguyên vẹn, không được chấn thương. Có thể sử dụng động mạch.[1]

Nếu buộc dây garo > 1 phút làm tăng nồng độ và yếu tố VII, VIII, XII cũng như kích hoạt các nội và quá trình tiêu sợi huyết. Một số đặc biệt như các dấu ấn tạo ra thrombin như phức hợp antithrombin- thrombin, và các mảnh prothrombin thì lấy không cần dây garo vì sẽ làm tăng các dấu ấn đặc biệt nếu cột dây garo hơn 1 phút. Buộc dây garo > 3 phút làm gây tắc mạch dẫn tới kích hoạt đông nên PT, APTT, TT bị rút ngắn[3]

Tỉ lệ và chống đông là 1 thể tích chống đông: 9 thể tích . Nếu lấy thiếu thì lượng chống đông sẽ dư dẫn đến thời gian đông kéo dài do calci đưa vào sẽ kết hợp với chống đông trước. Khi lấy dưới 89% thể tích yêu cầu thì sẽ gây sai lệch kết quả APTT đáng kể , dưới 78% đối với , dưới 67% đối với yếu tố VIII, trong khi đó PT và C vẫn có kết quả đáng tin cậy khi thể tích dưới 67%. Thay vì từ chối mẫu có thể lưu ý thể tích mẫu để điều chỉnh tùy trường hợp.[3]

Cơ chế chống đông sodium citrate:Kết hợp với Canxi ngăn cản quá trình đông máu

Khi Hct vượt quá 55%, thể tích huyết tương tăng hay giảm đòi hòi phải giảm thể tích chống đông để duy trì tỉ lệ 9:1 theo công thức: C (ml) = 1.85 x 10-3 x (100-Hct (%)) x V (ml)

Trong đó: C = ml, thể tích của chống đông Trisodium citrate 3.2%

Hct (%) = haematocrit của mẫu máu

V = ml, thể tích của ống nghiệm

Đối với trẻ sơ sinh nên dùng ống hút mẫu 1ml thay vì 2ml. Thể tích của chống đông nên dựa trên thể tích của huyết tương chứ không phải dựa trên tổng thể tích máu được lấy và nên giảm tỉ lệ chống đông để tránh làm loãng các do Hct ở trẻ sơ sinh rất cao. Tuy nhiên, hết các phòng và các đơn vị sơ sinh có cách tiếp cận thực tế hơn là họ chấp nhận một mức độ kéo dài giả tạo của thời gian đông máu và hết các khoảng tham chiếu đông máu sơ sinh đều dựa trên điều này.

Advertisement

Mẫu máu được quay li tâm với tốc độ 4000 vòng/phút trong 5 phút. Thực hiện trong vòng 4h ở nhiệt độ phòng kể từ khi lấy máu (CLSI).

Mẫu máu bị tiêu huyết( 95% là tiêu huyết nhẹ do hồng cầu bị vỡ, <0.3g/L với màu vàng đến hồng nhạt) hoặc Triglycerid cao (Triglycerid >500mg/dL đã làm đục huyết tương, mẫu máu gọi là có Triglycerid cao khi Tri >866mg/dL) hoặc Bilirrubin cao (>1,5mg/dL) sẽ ảnh hưởng đến kết quả đông máu được đo bằng nguyên tắc đo quang. CLSI khuyến cáo đối với mẫu máu có Triglycerid cao thì sẽ quay li tâm với tốc độ 40000 vòng/phút trong 30 phút.Tuy nhiên trên thực tế thì điều này khó thực hiện do tốn thời gian và đòi hỏi thiết bị chuyên dụng mà nhiều phòng thường quy không có. Hơn nữa việc quay li tâm lâu như vậy sẽ gây tủa một số kích thước lớn như , phức hợp yếu tố VIII – Von willebrand. Phướng pháp thay thế là li tâm kép 20,000 vòng/ phút trong 15 phút hoặc chiết lipid bằng các dung môi hữu cơ như fluorine chlorinated hydrocarbon hoặc các làm sạch lipid như Lipoclear và n – hexane. Đối với mẫu máu có thấp hơn 20mg/dL thì khi dùng một số thiết bị đông máu có bước sóng 650nm hoặc lớn hơn thì kết quả sẽ không bị ảnh hưởng [2]

Không thực hiện khi mẫu máu bị tiêu huyết hoặc bị đông.

5. Kiểm tra lượng:

Hiệu chuẩn – Nội kiểm – Ngoại kiểm

6. Kết quả – Bàn luận kết quả:

5.1 Kết quả bình thường: giá trị bình thường nằm trong khoảng 24 – 35 s nhưng có thể thay đổi giữa các phòng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như được thực hiện trên máy tự động hay làm thủ công, hoạt hóa đông máu, thời gian ủ, …

5.2 APTT chứng: Tùy hãng cung cấp hoặc tùy PXN

Đề nghị xét nghiệm nào tiếp?

Mix test: Trộn huyết tương với huyết tương người bình thường theo tỉ lệ 1:1 có thể giúp phân biệt giữa suy giảm yếu tố và tồn tại ức chế. Nếu Mix test không điều chỉnh được khoảng 3s – 4s APTT thì điều này có thể gợi ý:

+Có một ức chế đông máu như khảng thể chống yếu tố VIII mắc phải

+Kháng thể chống phospholipid như kháng đông lupus

Tài liệu tham khảo:

1. Giuseppe Lippi, M.D. Gian Luca Salvagno, M.D. Martina Montagnana (2012) Quality Standards for Sample Collection

in Coagulation Testing, Australia

2. Mario Plebani Giuseppe Lippi, Emmanuel J. Favaloro (2013) Interference in Coagulation Testing: Focus on

Spurious Hemolysis, Icterus, and Lipemia. Australia.

3. A. Magnette, M. Chatelain, B. Chatelain (2016) “Pre-analytical issues in the haemostasis laboratory: guidance for the clinical laboratories”.

 

Advertisement

Giới thiệu Diễn đàn Bác sĩ trẻ Việt Nam

Avatar
Y khoa không phải là một nghệ thuật, Y khoa là một khoa học thật sự, một khoa học vô cùng phức tạp đòi hỏi người hành nghề y phải khéo léo vận dụng kiến thức để không bỏ qua cơ hội cứu chữa người bệnh. Nếu mỗi người y khoa Việt Nam góp lên một tiếng nói, liên kết lại, chúng ta có thể thay đổi căn bản giáo dục Y khoa nước nhà. Hãy tham gia với chúng tôi tại: https://www.facebook.com/groups/diendanbacsitrevietnam

Like page Y lâm sàng để cập nhật những thông tin và bài viết mới nhất!

Check Also

[VYPO] ASCO 2020 – Cập nhật ung thư đầu cổ

BS. Jessica Bauman 1/Liệu rằng sử dụng Cisplatin hằng tuần liều thấp có thua kém …