[Dược lý] Các nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp

Điều đầu tiên phải ghi nhớ rằng 95% tăng huyết áp là vô căn (không rõ nguyên nhân). Vì vậy, tăng huyết áp là lâu dài và có thể suốt đời. Ngoài sử dụng đều đặn, nhân cũng cần tuân theo chế độ ăn uống, sinh hoạt mà bác sĩ khuyến cáo để quản lí một cách tốt nhất.

🏵️Các nhóm hiện đang được sử dụng trong tăng huyết áp trên lâm sàng là:

Hiện nay có 6 nhóm.

chẹn kênh calci (Calcium Channel Blockers).

2. chẹn β-adrenergic (Beta blockers).

3. ức chế hệ RAA (Renin – Angiotensin – Aldosterone) gồm 3 nhóm nhỏ

ức chế renin trực tiếp.

ức chế men chuyển angiotensin (Angiotensin Converting Enzyme Inhibitors – ACEIs).

chẹn thụ thể angiotensin (Angiotensin Receptor Blockers – ARBs).

4. chủ vận thụ thể α­2-adrenergic

5. lợi tiểu.

6. Thuốc giãn mạch trực tiếp hoặc có cơ chế khác.

Một số thuốc thuộc nhóm khác như: thuốc chẹn thụ thể α­1-adrenergic, thuốc ức chế giao cảm ngoại biên, thuốc hạch… rất ít dùng tăng huyết áp trên lâm sàng nên không đề cập ở đây.

🏵️Thuốc chẹn kênh calci

Bình thường nồng độ Ca2+ ngoại bào lớn hơn nội bào nhiều lần. Nhóm thuốc này có chung đó là ngăn không cho ion Ca2+ từ ngoại bào vào trong . Ion không vào được sẽ gây nên các hiệu ứng: giãn cơ trơn động mạch, lực co bóp cơ giảm và dẫn truyền tín hiệu trong giảm, từ đó huyết áp hạ. Ngoài ra, việc tác động lên kênh calci vỏ thượng ức chế sự tiết aldosterone, giảm giữ muối và , góp phần hạ huyết áp.

Việc thuốc ưu tiên trên cơ nào hơn (cơ thành động mạch hay cơ ) tùy thuộc vào nhóm thuốc. Do đó, tùy vào tình của nhân mà chọn thuốc phù hợp.

Các thuốc chẹn kênh calci thường gặp: nifedipin, amlodipin, diltiazem, verapamil…

🏵️ Thuốc chẹn β-adrenergic

Trong hệ giao cảm, thụ thể β-adrenergic xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau trong cơ thể với khác nhau, gồm 3 loại là β1, β2 và β3, trong đó trên , loại thụ thể ta gặp là β1 (thụ thể β2

cũng có nhưng với số lượng ít hơn nhiều). Kích thích thụ thể này làm tăng sức co bóp cơ và tăng huyết áp. Các thuốc có chẹn thụ thể này sẽ có tác dùng giảm sức co bóp cơ và giảm huyết áp.

Các phụ mà các thuốc này gây ra thường do tính chọn lọc của nó trên các thụ thể. Thuốc nào tính chọn lọc trên β1 càng kém thì càng nhiều không mong muốn. Tuy nhiên đáng buồn là không có thuốc nào mà hoàn toàn chỉ trên β1 cả.

Các thuốc chẹn β-adrenergic thường gặp: propranolol, acebutolol, nebivolol…

🏵️ Thuốc ức chế hệ RAA

Hệ RAA có trò trong quá trình điều hòa huyết áp. Khi có một lí do nào đó làm huyết áp tụt, mức lọc cầu giảm, các cận cầu sẽ tiết ra renin. Renin có chuyển angiotensinogen được sản xuất bởi thành angiotensin I. Sau đó dưới của men ACE ở phổi, angiotensin I được chuyển thành angiotensin II. Angiotensin II liên kết với thụ thể AT1 có co mạch, hoạt hóa giao cảm, kích thích tuyến thượng tăng tiết aldosterone, kích thích tuyến yên tiết ADH (hormon chống bài niệu), tăng giữ muối và , từ đó gây tăng huyết áp.

Các thuốc ức chế hệ này gồm 3 nhóm nhỏ:

Thuốc ức chế renin trực tiếp: Aliskiren là thuốc duy nhất của nhóm này cho đến nay được sử dụng trên lâm sàng. Nó ức chế trực tiếp hormon đầu tiên trong quá trình trên nên ức chế sự sản sinh angiotensin II, giúp hạ huyết áp.

Thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEIs): Các thuốc nhóm này ức chế hình thành angiotensin II nhờ ức chế men ACE tại phổi, từ đó giúp hạ huyết áp. phụ nổi bật của thuốc này là gây ho.

Advertisement

Các thuốc thường gặp: enalapril, perindopril, fosinopril…

🏵️ Thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARBs): Các thuốc này không ngăn chặn sự tạo thành angiotenin II như hai thuốc trên, thay vào đó nó ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II làm hormon này không phát huy được , giúp hạ huyết áp.

Các thuốc thường gặp: valsartan, telmisartan, candesartan…

🏵️ Thuốc chủ vận thụ thể α­2-adrenergic

Các thuốc nhóm này là chủ vận α­2-adrenergic ở trung ương, không giống như thuốc chủ vận thụ thể α­1 gây tăng huyết áp, chủ vận α­2 có giảm hoạt tính giao cảm ngoại vi nên hạ huyết áp.

Methyldopa là thuốc chỉ định đầu tay cho tăng huyết áp ở phụ .

Các thuốc thường gặp: methyldopa, clonidine, guanfacine, guanabenz (thường sử dụng trong tăng huyết áp không đáp ứng với các thuốc thường dùng)…

🏵️ Thuốc lợi tiểu

Thuốc lợi tiểu có tăng thải và muối, giảm thể tích tuần hoàn nen giảm huyết áp. Thường không dùng đơn độc mà dùng kết hợp với các thuốc hạ huyết áp khác, đặc biệt là nhóm ACEIs hoặc ARBs.

Tác dụng phụ thường thấy của nhóm này là gây hạ kali huyết (trừ một số thuốc lợi tiểu giữ kali).

Các thuốc thường gặp: hydrochlorothiazide, furosemide, spironolacton…

🏵️ Thuốc giãn mạch trực tiếp hoặc có cơ chế khác

Các thuốc này có cơ chế khác các cơ chế trên, thường gây giãn mạch nhanh và mạnh nên thường dùng trong tăng huyết áp cấp cứu hoặc kháng trị.

Nhược điểm của các thuốc này là gây hoạt hóa hệ RAA (cơ chế bù trừ của cơ thể) làm huyết áp tăng nhanh trở lại.

Các thuốc thường gặp: hydralazine, fenoldopam, các nitrat hữu cơ (nitroglycerin, isosorbid dinitrat) thường dùng trong đau thắt ngực hơn nhưng cũng có thể sử dụng trong tăng huyết áp cấp cứu.

Trong thực tế, với nhân chỉ có tăng huyết áp nhẹ, thường bác sĩ sẽ chỉ yêu cầu thay đổi lối sống, có thể sử dụng một thuốc hạ huyết áp. Với các trường hợp tăng huyết áp trung bình hoặc nặng, thường sẽ phải phối hợp 2,3 hoặc thậm chí là 4 thuốc hạ huyết áp để đạt hiệu quả .

Nguồn: Chia sẻ kiến thức khoa cơ sở

Advertisement

Giới thiệu Thủy Tiên

Avatar
Họ và tên: Hà Thuỷ Tiên Ngày sinh: 05/12/2000 Trường: sinh viên đại học tây nguyên Biệt danh khác: Azura

Like page Y lâm sàng để cập nhật những thông tin và bài viết mới nhất!

Check Also

[Nội tiết] Thuốc điều trị đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường là gì? Theo Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) 2017 “ …