Da và nhận biết các tổn thương da cơ bản

5/5 - (3 bình chọn)

Trong lâm sàng da liễu, tổn thương da cơ bản là những biến đổi hình thái đầu tiên xuất hiện trên da khi có bệnh lý. Trên thực tế, da giống như một “tấm bản đồ bệnh học” – nơi mỗi loại tổn thương đều mang một đặc điểm riêng về màu sắc, kích thước, độ gồ, dịch chứa bên trong hoặc sự thay đổi cấu trúc da.

1/ Nhóm tổn thương thay đổi màu sắc

Đây là nhóm tổn thương chỉ biểu hiện bằng sự thay đổi màu sắc của da, trong khi bề mặt da vẫn phẳng, không gồ lên và không sờ thấy sự thay đổi về cấu trúc. Khi sờ vào vùng da này, cảm giác gần như giống hoàn toàn với vùng da bình thường xung quanh [1].

Những thay đổi màu sắc này thường liên quan đến ba cơ chế chính [2]: thay đổi sắc tố da (melanin), thay đổi lượng máu trong mao mạch da hoặc sự thoát máu ra khỏi mạch. Trong phạm vi nhóm này, hai dạng tổn thương thường gặp nhất là dát và ban đỏ.

1.1.Dát (Macule)

Dát là vùng da thay đổi màu sắc nhưng bề mặt vẫn phẳng, không nổi lên so với vùng da xung quanh. Kích thước thường nhỏ (dưới 1 cm). Màu sắc có thể đỏ, nâu, trắng hoặc tím tùy nguyên nhân, thường liên quan đến thay đổi sắc tố hoặc mạch máu. Dát thường gặp trong các bệnh như phát ban do virus, tàn nhang, nám da hoặc tăng sắc tố sau viêm [4].

Hình minh họa sự khác biệt giữa dát (macule) và mảng dát (patch) trong da liễu
Hình minh họa sự khác biệt giữa dát (macule) và mảng dát (patch) trong da liễu

1.2. Ban đỏ (Erythema)

Ban đỏ là tình trạng da đỏ lên do giãn các mao mạch dưới da, làm tăng lượng máu tại vùng đó. Một đặc điểm quan trọng là khi ấn vào vùng da đỏ, màu đỏ có thể nhạt đi hoặc mất tạm thời. Ban đỏ thường gặp trong viêm da, nhiễm trùng hoặc phản ứng dị ứng.

Hình ảnh cho thấy ban đỏ (erythema) ở lòng bàn tay hai bên, biểu hiện bằng các vùng da đỏ hồng lan tỏa, ranh giới không rõ và bề mặt da vẫn phẳng.
Hình ảnh cho thấy ban đỏ (erythema) ở lòng bàn tay hai bên, biểu hiện bằng các vùng da đỏ hồng lan tỏa, ranh giới không rõ và bề mặt da vẫn phẳng.

2/  Nhóm tổn thương gồ đặc

Nhóm tổn thương gồ đặc gồm các tổn thương nhô cao trên bề mặt da nhưng không chứa dịch. Khi khám lâm sàng, các tổn thương này có thể sờ thấy rõ và thường xuất hiện do viêm, tăng sinh tế bào hoặc lắng đọng các chất trong da [3].

2.1. Sẩn (Papule)

Sẩn là tổn thương nhỏ, gồ lên trên bề mặt da, kích thước thường dưới 1 cm và khi sờ có cảm giác chắc. Sẩn hình thành do quá trình viêm hoặc tăng sinh tế bào tại chỗ [2]. Đây là dạng tổn thương rất thường gặp trong nhiều bệnh da liễu như mụn trứng cá, viêm da cơ địa hoặc lichen phẳng.

Hình ảnh cho thấy một sẩn (papule) trên vùng mũi, biểu hiện bằng tổn thương nhỏ, gồ nhẹ trên bề mặt da, ranh giới tương đối rõ và màu hơi đỏ so với vùng da xung quanh.
Hình ảnh cho thấy một sẩn (papule) trên vùng mũi, biểu hiện bằng tổn thương nhỏ, gồ nhẹ trên bề mặt da, ranh giới tương đối rõ và màu hơi đỏ so với vùng da xung quanh.

2.2. Mảng (Plaque)

Mảng là tổn thương lớn hơn sẩn, thường hình thành khi nhiều sẩn tập trung và hợp lại với nhau. Mảng có bề mặt tương đối phẳng nhưng vẫn nổi cao hơn da xung quanh và thường có ranh giới rõ. Mảng thường gặp trong các bệnh lý da mạn tính như vảy nến hoặc viêm da mạn tính [5].

Hình ảnh cho thấy tổn thương dạng mảng (plaque) trên da, biểu hiện bằng vùng da đỏ, nổi cao hơn so với da xung quanh, ranh giới khá rõ và bề mặt có vảy trắng.
Hình ảnh cho thấy tổn thương dạng mảng (plaque) trên da, biểu hiện bằng vùng da đỏ, nổi cao hơn so với da xung quanh, ranh giới khá rõ và bề mặt có vảy trắng.

2.3. Cục (Nodule)

Cục là tổn thương lớn hơn và nằm sâu hơn trong da, kích thước thường trên 1 cm. Khi sờ có cảm giác chắc và tổn thương có thể lan xuống lớp trung bì sâu hoặc hạ bì. Cục thường gặp trong các bệnh lý viêm sâu, u lành hoặc một số khối u da [3].

Hình ảnh cho thấy các cục (nodules) ở vùng khớp ngón tay, biểu hiện bằng những khối gồ tròn, kích thước lớn hơn 1 cm, ranh giới rõ và nằm sâu dưới da.
Hình ảnh cho thấy các cục (nodules) ở vùng khớp ngón tay, biểu hiện bằng những khối gồ tròn, kích thước lớn hơn 1 cm, ranh giới rõ và nằm sâu dưới da.

3/ Nhóm tổn thương chứa dịch

Nhóm tổn thương chứa dịch gồm các tổn thương nhô cao trên bề mặt da và bên trong có chứa dịch. Dịch có thể là dịch trong, dịch huyết thanh hoặc mủ, tùy theo cơ chế bệnh sinh và nguyên nhân gây bệnh [1].

3.1. Mụn nước (Vesicle)

Mụn nước là tổn thương nhỏ chứa dịch trong, kích thước thường dưới 1 cm. Thành mụn nước mỏng nên dễ vỡ, sau khi vỡ có thể để lại vết trợt hoặc đóng vảy [2]. Mụn nước thường gặp trong các bệnh như herpes simplex, thủy đậu hoặc viêm da tiếp xúc dị ứng.

Hình ảnh cho thấy mụn nước (vesicles) tập trung thành cụm trên nền da đỏ, một số mụn nước đã vỡ tạo thành vết trợt và đóng vảy tiết màu vàng nâu.
Hình ảnh cho thấy mụn nước (vesicles) tập trung thành cụm trên nền da đỏ, một số mụn nước đã vỡ tạo thành vết trợt và đóng vảy tiết màu vàng nâu.

3.2. Bóng nước (Bulla)

Bóng nước là tổn thương tương tự mụn nước nhưng kích thước lớn hơn 1 cm. Bên trong chứa dịch trong hoặc hơi vàng nhạt. Bóng nước có thể xuất hiện trong bỏng da, phản ứng thuốc hoặc các bệnh da tự miễn như pemphigus hoặc pemphigoid.

Hình ảnh cho thấy các bóng nước (bulla) và mụn nước trên nền da đỏ, với nhiều tổn thương chứa dịch trong màu vàng nhạt, nổi cao trên bề mặt da.
Hình ảnh cho thấy các bóng nước (bulla) và mụn nước trên nền da đỏ, với nhiều tổn thương chứa dịch trong màu vàng nhạt, nổi cao trên bề mặt da.

3.3. Mụn mủ (Pustule)

Mụn mủ là tổn thương chứa dịch mủ, hình thành do sự tích tụ của bạch cầu, vi khuẩn và các mảnh vụn tế bào trong tổn thương. Mụn mủ thường có màu vàng hoặc trắng đục, thường gặp trong nhiễm trùng da, viêm nang lông hoặc mụn trứng cá.

Hình ảnh cho thấy mụn mủ (pustule) trên da, biểu hiện bằng tổn thương nhỏ, gồ nhẹ trên bề mặt da với trung tâm chứa mủ màu trắng vàng, xung quanh có vùng ban đỏ do phản ứng viêm
Hình ảnh cho thấy mụn mủ (pustule) trên da, biểu hiện bằng tổn thương nhỏ, gồ nhẹ trên bề mặt da với trung tâm chứa mủ màu trắng vàng, xung quanh có vùng ban đỏ do phản ứng viêm

4/ Nhóm tổn thương mạch máu – xuất huyết

Nhóm tổn thương này liên quan đến sự thoát máu ra khỏi mạch máu vào mô da do tổn thương thành mạch hoặc rối loạn đông máu. Đặc điểm quan trọng là khi ấn vào tổn thương sẽ không mất màu, vì máu đã thoát ra khỏi lòng mạch [5].

4.1. Chấm xuất huyết (Petechiae)

Chấm xuất huyết là những chấm đỏ hoặc tím rất nhỏ, kích thước thường dưới 2 mm. Tổn thương xuất hiện do máu thoát ra khỏi các mao mạch nhỏ và thường gặp trong các bệnh như giảm tiểu cầu, nhiễm trùng hoặc rối loạn đông máu.

Hình ảnh cho thấy nhiều chấm xuất huyết (petechiae) rải rác trên da, biểu hiện bằng các chấm nhỏ màu đỏ tím, kích thước rất nhỏ (thường dưới 2 mm).
Hình ảnh cho thấy nhiều chấm xuất huyết (petechiae) rải rác trên da, biểu hiện bằng các chấm nhỏ màu đỏ tím, kích thước rất nhỏ (thường dưới 2 mm).

4.2. Ban xuất huyết (Purpura)

Ban xuất huyết có kích thước lớn hơn chấm xuất huyết (khoảng 2–10 mm) và cũng có màu đỏ tím hoặc tím sẫm. Tổn thương thường gặp trong viêm mạch, rối loạn đông máu hoặc bệnh lý về tiểu cầu.

Hình ảnh cho thấy ban xuất huyết (purpura) lan rộng ở hai bàn chân và cẳng chân, biểu hiện bằng nhiều tổn thương màu đỏ tím kích thước vài mm, rải rác và hợp lại thành từng mảng lớn.
Hình ảnh cho thấy ban xuất huyết (purpura) lan rộng ở hai bàn chân và cẳng chân, biểu hiện bằng nhiều tổn thương màu đỏ tím kích thước vài mm, rải rác và hợp lại thành từng mảng lớn.

4.3. Bầm máu (Ecchymosis)

Bầm máu là vùng xuất huyết kích thước lớn hơn 1 cm, do máu tụ dưới da. Tổn thương thường xuất hiện sau chấn thương, va đập hoặc rối loạn đông máu, và màu sắc có thể thay đổi dần theo thời gian từ đỏ tím sang xanh hoặc vàng khi máu được hấp thu [3].

Hình ảnh cho thấy bầm máu (ecchymosis) ở vùng cánh tay, biểu hiện bằng mảng xuất huyết lớn dưới da có màu tím sẫm, kích thước trên 1 cm và ranh giới không đều.
Hình ảnh cho thấy bầm máu (ecchymosis) ở vùng cánh tay, biểu hiện bằng mảng xuất huyết lớn dưới da có màu tím sẫm, kích thước trên 1 cm và ranh giới không đều.

5/ Nhóm tổn thương phù nề thoáng qua – Mề đay

Mày đay (Wheal)

Mày đay là tổn thương nổi cao trên bề mặt da do phù nề trung bì, có bờ không đều, màu hồng hoặc đỏ nhạt và thường rất ngứa. Trung tâm tổn thương đôi khi nhạt màu hơn do phù nề chèn ép mạch máu. Đặc điểm điển hình của mày đay là xuất hiện nhanh và có thể biến mất sau vài phút đến vài giờ, thường liên quan đến phản ứng dị ứng, thuốc, thức ăn hoặc côn trùng đốt [1].

Hình ảnh cho thấy tổn thương mày đay (wheal) trên da, biểu hiện bằng vùng da nổi cao, phù nề, màu hồng nhạt trên nền ban đỏ
Hình ảnh cho thấy tổn thương mày đay (wheal) trên da, biểu hiện bằng vùng da nổi cao, phù nề, màu hồng nhạt trên nền ban đỏ

6/ Kết luận

Các tổn thương da cơ bản là những biến đổi hình thái đầu tiên của da khi có bệnh lý và đóng vai trò rất quan trọng trong khám và chẩn đoán lâm sàng da liễu. Dựa vào đặc điểm hình thái, các tổn thương này có thể được chia thành nhiều nhóm như tổn thương thay đổi màu sắc (dát, ban đỏ), tổn thương gồ đặc (sẩn, mảng, cục), tổn thương chứa dịch (mụn nước, bóng nước, mụn mủ), tổn thương xuất huyết (chấm xuất huyết, ban xuất huyết, bầm máu) và tổn thương phù nề thoáng qua (mày đay).Trên cùng của Biểu mẫu

cac loai benh da
Da và nhận biết các tổn thương da cơ bản

————————————————–

Nguồn tài liệu tham khảo

1/ Bộ Y tế. (2023). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh da liễu. Hà Nội: Bộ Y tế Việt Nam.

2/ Văn Thế Trung. (2020). Da liễu cơ bản. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Y học.

3/ Bolognia, J. L., Schaffer, J. V., & Cerroni, L. (2024). Dermatology (5th ed.). Elsevier

4/ Habif, T. P. (2026). Clinical dermatology: A color guide to diagnosis and therapy (6th ed.). Elsevier.

5/ Wolff, K., Johnson, R. A., Saavedra, A. P., & Roh, E. K. (2020). Fitzpatrick’s color atlas and synopsis of clinical dermatology (8th ed.). McGraw-Hill Education

Advertisement

Giới thiệu Duy Kha

Xin chào, mình là Duy Kha Là Admin Page Y Khoa Remix.

Xem các bài tương tự

Gemini Generated Image b83qneb83qneb83q

Đọc nhanh ECG: 6 bước “sống sót” trên lâm sàng

Đối với sinh viên Y, bản ghi điện tâm đồ (ECG) thường trông như một …