Bàng quang thần kinh: Cơ chế bệnh theo vị trí tổn thương và các rối loạn liên quan

Rate this post

Bàng quang thần kinh là tình trạng rối loạn chức năng bàng quang do tổn thương các đường dẫn truyền thần kinh điều khiển quá trình tiểu tiện.

1/ Cơ chế kiểm soát tiểu tiện bình thường

Quá trình tiểu tiện bình thường là một cơ chế sinh lý phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp giữa não, tủy sống và hệ thần kinh ngoại biên. Khi bàng quang bắt đầu đầy, các thụ thể căng ở thành bàng quang gửi tín hiệu thần kinh qua tủy sống lên trung tâm tiểu tiện ở cầu não và vỏ não [1].

Trong giai đoạn chứa nước tiểu, hệ thần kinh giao cảm thông qua thần kinh hạ vị làm giãn cơ detrusor (là lớp cơ trơn của thành bàng quang, gồm ba lớp cơ: cơ dọc trong, cơ vòng giữa và cơ dọc ngoài), phối hợp co bóp để tống nước tiểu ra ngoài khi tiểu tiện). Đồng thời làm co cơ thắt niệu đạo trong để giữ nước tiểu, cùng với đó là thần kinh thẹn kiểm soát cơ thắt niệu đạo ngoài, giúp con người chủ động kiểm soát việc tiểu tiện.

image 53
 Hình minh họa giải phẫu bàng quang người. Trong đó, thành bàng quang được tạo bởi cơ detrusor

Khi bàng quang đầy và có điều kiện thích hợp để đi tiểu, trung tâm tiểu tiện ở cầu não sẽ kích hoạt phản xạ tiểu tiện. Lúc này, hệ thần kinh phó giao cảm thông qua thần kinh chậu kích thích cơ detrusor co bóp, đồng thời làm giãn cơ thắt niệu đạo, giúp nước tiểu được tống ra ngoài [4].

2/ Cơ chế bàng quang thần kinh theo vị trí tổn thương

Tùy theo vị trí tổn thương của hệ thần kinh, các rối loạn chức năng bàng quang trong bàng quang thần kinh có thể biểu hiện khác nhau [2]. Tổn thương ở não, tủy sống hoặc các dây thần kinh ngoại biên đều có thể làm gián đoạn sự dẫn truyền tín hiệu giữa não và bàng quang.

Hình minh họa tổng quan cơ chế bàng quang thần kinh khi có tổn thương, làm gián đoạn đường dẫn truyền thần kinh giữa não và bàng quang.
Hình minh họa tổng quan cơ chế bàng quang thần kinh khi có tổn thương, làm gián đoạn đường dẫn truyền thần kinh giữa não và bàng quang.

2.1. Tổn thương tại não

Khi tổn thương xảy ra ở não, đặc biệt tại các trung tâm điều hòa tiểu tiện ở vỏ não và cầu não, sự kiểm soát của hệ thần kinh trung ương đối với hoạt động của bàng quang bị suy giảm. Bình thường, não có vai trò điều chỉnh thời điểm tiểu tiện và ức chế phản xạ tiểu khi bàng quang chưa đầy [3]. Nhờ đó, con người có thể chủ động kiểm soát việc đi tiểu. Khi vùng não này bị tổn thương, khả năng ức chế phản xạ tiểu tiện giảm, khiến bàng quang tăng co bóp sớm ngay cả khi lượng nước tiểu chưa nhiều. Hậu quả là người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng như tiểu gấp, tiểu nhiều lần và tiểu không tự chủ.

2.2. Tổn thương tại tủy sống

Tủy sống đóng vai trò là đường dẫn truyền tín hiệu giữa não và bàng quang. Khi tủy sống bị tổn thương, tín hiệu thần kinh từ não không thể truyền xuống bàng quang và ngược lại. Trong trường hợp này, bàng quang không còn chịu sự kiểm soát của các trung tâm thần kinh cao hơn mà hoạt động chủ yếu dựa vào các phản xạ tự động tại tủy sống. Điều này có thể khiến cơ detrusor xuất hiện các cơn co bóp tự phát và không kiểm soát, dẫn đến tình trạng bàng quang tăng hoạt [2][3]

2.3. Tổn thương thần kinh ngoại biên hoặc thần kinh phó giao cảm

Các dây thần kinh ngoại biên, đặc biệt là thần kinh phó giao cảm, có vai trò quan trọng trong việc kích thích cơ detrusor co bóp để tống nước tiểu ra khỏi bàng quang. Khi các dây thần kinh này có vấn đề, tín hiệu kích thích co bóp bàng quang bị giảm hoặc mất hoàn toàn. Kết quả là cơ detrusor giảm khả năng co bóp hoặc không co được, khiến bàng quang không thể tống nước tiểu hiệu quả. Tình trạng này được gọi là bàng quang giảm hoạt hoặc bàng quang liệt [1]. Hậu quả thường gặp là bí tiểu, tăng lượng nước tiểu tồn lưu trong bàng quang và nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu.

2.4. Mất phối hợp giữa cơ detrusor và cơ thắt niệu đạo

Ngoài các rối loạn trên, tổn thương hệ thần kinh còn có thể gây mất phối hợp giữa cơ detrusor và cơ thắt niệu đạo. Trong điều kiện bình thường, khi cơ detrusor co bóp để đẩy nước tiểu ra ngoài thì cơ thắt niệu đạo sẽ giãn ra để tạo đường thoát cho nước tiểu. Tuy nhiên, khi hệ thần kinh bị tổn thương, hai nhóm cơ này có thể hoạt động không đồng bộ, thậm chí co cùng lúc [2]. Hiện tượng này được gọi là mất phối hợp detrusor – cơ thắt niệu đạo. Khi xảy ra tình trạng này, dòng nước tiểu bị cản trở, áp lực trong bàng quang tăng cao và người bệnh có thể gặp các triệu chứng như tiểu khó, tiểu ngắt quãng hoặc bí tiểu.


Bảng tổng hợp các vị trí tổn thương trong bàng quang thần kinh và cơ chế bệnh sinh
Bảng tổng hợp các vị trí tổn thương trong bàng quang thần kinh và cơ chế bệnh sinh

3/ Hậu quả sinh lý bệnh

Rối loạn chức năng tiểu tiện:

Trong bàng quang thần kinh, sự tổn thương các đường dẫn truyền thần kinh giữa não, tủy sống và bàng quang làm rối loạn sự phối hợp giữa cơ detrusor và cơ thắt niệu đạo, từ đó gây ra nhiều hậu quả bệnh lý quan trọng [5]. Trước hết là rối loạn chức năng tiểu tiện, người bệnh có thể xuất hiện tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu không tự chủ hoặc ngược lại là bí tiểu do cơ detrusor không co bóp hiệu quả. Khi bàng quang không tống hết nước tiểu, lượng nước tiểu tồn lưu sau tiểu tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và gây nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát.

Trào ngược bàng quang – niệu quản:

Bên cạnh đó, sự mất phối hợp giữa cơ detrusor và cơ thắt niệu đạo có thể làm tăng áp lực trong bàng quang, đặc biệt khi bàng quang co bóp nhưng cơ thắt không giãn ra. Áp lực cao kéo dài có thể gây trào ngược bàng quang – niệu quản, khiến nước tiểu đi ngược từ bàng quang lên niệu quản và thận [3]. Tình trạng này lâu dần có thể gây giãn niệu quản, ứ nước thận và tổn thương nhu mô thận.

Biến đổi cấu trúc bàng quang:

Ngoài ra, bàng quang thần kinh còn có thể dẫn đến biến đổi cấu trúc của bàng quang, như thành bàng quang dày lên, giảm tính đàn hồi hoặc giãn bàng quang mạn tính [2]. Những thay đổi này làm giảm khả năng chứa và tống xuất nước tiểu bình thường. Nếu không được điều trị và kiểm soát kịp thời, các rối loạn kéo dài có thể gây suy giảm chức năng thận, thậm chí dẫn đến suy thận mạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và chất lượng sống của người bệnh.

Sỏi bàng quang và viêm bàng quang:

Trong bàng quang thần kinh, tình trạng nước tiểu không được tống ra hết khiến nước tiểu ứ đọng lâu trong bàng quang, từ đó dễ hình thành sỏi bàng quang. Các tinh thể khoáng trong nước tiểu lắng đọng dần và kết tụ lại thành sỏi. Sỏi có thể gây kích thích niêm mạc bàng quang, dẫn đến các triệu chứng như đau khi tiểu, tiểu buốt, tiểu ra máu hoặc tiểu ngắt quãng, đồng thời làm cản trở dòng chảy của nước tiểu [1][2].

Ngoài ra, nước tiểu tồn lưu còn tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, làm tăng nguy cơ viêm bàng quang. Khi niêm mạc bàng quang bị nhiễm khuẩn và viêm, người bệnh có thể xuất hiện các biểu hiện như tiểu rát, tiểu nhiều lần, tiểu gấp, đau vùng hạ vị và nước tiểu đục hoặc có mùi hôi [3]. Nếu tình trạng viêm bàng quang kéo dài hoặc tái phát nhiều lần, niêm mạc bàng quang có thể bị tổn thương mạn tính và làm suy giảm chức năng bình thường của bàng quang.

Hình minh họa viêm bàng quang, bên trái là niêm mạc bàng quang bình thường. bên phải là bàng quang bị viêm
Hình minh họa viêm bàng quang, bên trái là niêm mạc bàng quang bình thường, bên phải là bàng quang bị viêm

4/  Kết luận

Tóm lại, bàng quang thần kinh là hậu quả của tổn thương hệ thần kinh điều khiển quá trình tiểu tiện, làm gián đoạn sự phối hợp giữa não, tủy sống và bàng quang. Sự rối loạn này dẫn đến nhiều dạng rối loạn chức năng tiểu tiện như tiểu không kiểm soát, tiểu gấp hoặc bí tiểu.

Nếu tình trạng kéo dài, áp lực trong bàng quang tăng và nước tiểu tồn lưu có thể gây ra nhiều biến chứng như trào ngược bàng quang – niệu quản, biến đổi cấu trúc bàng quang, sỏi bàng quang và viêm bàng quang, thậm chí ảnh hưởng đến chức năng thận.

——————————————

Nguồn tài liệu tham khảo:

1/ Phong, C. P. (2021). Bàng quang thần kinh. Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.

2/ Đông, P. T. (2024). Đặc điểm hoạt động chăm sóc người bệnh tổn thương tủy sống có bàng quang thần kinh. Tạp chí Y học Cộng đồng.

3/ Dorsher, P. T., & McIntosh, P. M. (2022). Neurogenic bladder. Advances in Urology.

4/ Perez, N. E., et al. (2022). Neurogenic bladder physiology, pathogenesis, and management after spinal cord injury. Journal of Personalized Medicine, 12(6), 968.

5/ Hao, J., et al. (2025). Neurogenic bladder: Pathophysiology, assessment and management. Frontiers in Medicine.







Advertisement

Giới thiệu Duy Kha

Xin chào, mình là Duy Kha Là Admin Page Y Khoa Remix.

Xem các bài tương tự

Ngộ độc botulinum: khi độc tố “đóng băng” hệ hô hấp

​1. Tình huống lâm sàng: cú sập nguồn từ trên xuống dưới ​Một nam thanh …