[Healthline] Mọi điều bạn cần biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs)

Advertisement

Thực tế về STDs

Thuật ngữ bệnh lây qua đường tình dục (STD) được sử dụng để đề cập về một tình trạng bệnh lây từ người này sang người khác thông qua quan hệ tình dục. Một người có thể mắc STD khi quan hệ tình dục bằng đường âm đạo, hậu môn hoặc đường miệng với một ai đó mắc STD mà không được bảo vệ.

STD cũng có thể được gọi là một bệnh nhiễm trùng lây qua đường tình dục (STI) hay bệnh hoa liễu (VD)

Điều đó không có nghĩa quan hệ tình dục là con đường duy nhất lây truyền STDs. Tuỳ thuộc vào STD cụ thể, nhiễm trùng có thể còn lây truyền qua việc dùng chung kim tiêm và cho con bú.

Các triệu chứng của STD ở nam giới

Họ có thể mắc STD mà không phát triển thành các triệu chứng. Nhưng một số STDs lại gây ra các triệu chứng rõ ràng. Ở nam giới, các triệu chứng phổ biến bao gồm:

  • Đau hoặc không thoải mái trong quá trình giao hợp hoặc đi tiểu
  • Loét, trầy xước, hoặc phát ban trên hay xung quang dương vật, tinh hoàn, hậu môn, mông, đùi hoặc miệng
  • Tiết dịch bất thường hoặc chảy máu từ dương vật
  • Tinh hoàn bị đau hoặc sưng

Các triệu chứng cụ thể có thể khác nhau, nó tuỳ thuộc vào STD.

Các triệu chứng của STD ở nữ giới

Trong nhiều trường hợp, STD không gây ra các triệu chứng đáng chú ý. Khi đó, các triệu chứng STD phổ biến ở phụ nữ bao gồm:

  • Đau hoặc không thoải mái trong quá trình giao hợp hoặc đi tiểu
  • Loét, trầy xước, hoặc phát ban trên hay xung quang dương vật, tinh hoàn, hậu môn, mông, đùi hoặc miệng
  • Tiết dịch bất thường hoặc chảy máu từ âm đạo
  • Ngứa bên trong hoặc xung quanh âm đạo

Các triệu chứng cụ thể có thể thay đổi từ STD này sang STD khác.

Hình ảnh về STDs

 

Nhiều người nhiễm Chlamydia có thể không gặp bất kỳ triệu chứng nào. Tuy nhiên, việc nhiễm vi khuẩn vẫn khiến họ có nguy cơ vô sinh hoặc gặp vấn đề với việc mang thai, do vậy điều quan trọng là phải điều trị bằng thuốc kháng sinh.

 

HPV là một bệnh lây truyền qua đường tình dục rất phổ biến, trong một số trường hợp, có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư ở cổ tử cung, dương vật, âm hộ, âm đạo hoặc hậu môn.

 

Nếu không được điều trị, nhiễm trùng Neisseri gonorrhoeae có thể dẫn đến các biến chứng y tế nghiêm trọng ở cả nam và nữ, chẳng hạn như vô sinh, nhiễm trùng đường tiết niệu, viêm màng não, viêm khớp hoặc nhiễm trùng toàn thân.

 

Rận mu là loài côn trùng nhỏ, ký sinh, hút máu người và thích nghi với việc sống trên các bộ phận có lông dày và thô của cơ thể người.

 

Các triệu chứng của giang mai giai đoạn đầu có thể nhẹ hoặc không được chú ý. Nhưng nhiễm bệnh giang mai giai đoạn cuối có liên quan đến các vẫn đề y tế nghiêm trọng, bao gồm tổn thương thần kinh, các cơ quan và tử vong, do vậy điều quan trọng là phải được xét nghiệm và điều trị sao khi tiếp xúc với bệnh này.

 

Các loại STDs

Có rất nhiều loại nhiễm trùng khác nhau có thể lây truyền qua đường tình dục. Các bệnh của STDs phổ biến nhất được mô tả dưới đây.

Bệnh Chlamydia

Một loại vi khuẩn chắc chắn gây ra bệnh Chlamydia. Theo nguồn tin cậy của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), đây là bệnh STD được báo cáo là phổ biến nhất ở người Mỹ.

Nhiều người mắc bệnh Chlamydia không có các triệu chứng đáng chú ý. Khi các triệu chứng phát triển, chúng thường bao gồm:

  • Đau hoặc không thoải mái trong quá trình giao hợp hoặc đi tiểu
  • Tiết dịch có màu xanh hay vàng từ dương vật hoặc âm đạo
  • Đau vùng bụng dưới

Nếu không chữa trị, bệnh Chlamydia có thể dẫn tới:

  • Nhiễm trùng niệu đạo, tuyến tiền liệt, tinh hoàn
  • Bệnh viêm vùng chậu
  • Hiếm muộn

Thuốc kháng sinh có thể dễ dàng điều trị bệnh Chlamydia.

HPV (vi rút u nhú ở người)

Vi rút u nhú ở người (HPV) là một vi rút có thể lây từ người này sang người khác qua tiếp xúc thân mật giữa da với da hay quan hệ tình dục. Có rất nhiều chủng vi rút khác nhau. Một số nguy hiểm nhiều hơn loại khác.

Triệu chứng phổ biến nhất của HPV là mụn cóc trên bộ phận sinh dục, miệng hoặc họng.

Một số chủng của nhiễm trùng HPV có thể dẫn đến ung thư, bao gồm:

  • Ung thư miệng
  • Ung thư cổ tử cung
  • Ung thư âm hộ
  • Ung thư dương vật
  • Ung thư trực tràng

Trong khi phần lớn các trường hợp nhiễm HPV không trở thành ung thư, một số chủng của vi rút có khả năng gây ung thư hơn những chủng khác. Theo viện Ung thư Quốc Gia, hầu hết các trường hợp ung thư liên quan đến HPV ở Hoa Kỳ là do HPV 16 và HPV 18. Hai chủng HPV này chiếm tới 70% tổng số các trường hợp ung thư cổ tử cung.

Không có phương pháp điều trị HPV. Tuy nhiên, nhiễm trùng HPV thường tự khỏi. Ngoài ra, tiêm vắc xin có tác dụng để bảo vệ chống lại một số chủng nguy hiểm nhất, bao gồm HPV 16 và HPV 18.

Nếu một người bị nhiễm HPV, xét nghiệm và sàng lọc thích hợp có thể giúp bác sĩ của họ đánh giá và quản nguy cơ biến chứng của bạn.

Bệnh giang mai

Bệnh giang mai là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn khác. Nó thường không được chú ý trong giai đoạn đầu.

Triệu chứng xuất hiện đầu tiên là một vết loét nhỏ hình tròn, được gọi là săng. Nó có thể phát tiển trên bộ phận sinh dục, hậu môn hoặc miệng. Nó không đau nhưng rất dễ lây lan.

Các triệu chứng sau đó của bệnh giang mai bao gồm:

  • Phát ban
  • Mệt mỏi
  • Sốt
  • Đau đầu
  • Đau khớp
  • Sụt cân
  • Rụng tóc

Nếu không được điều trị, bệnh giang mai giai đoạn cuối có thể dẫn đến:

  • Mất thị giác
  • Mất thính giác
  • Mất trí nhớ
  • Bệnh tâm thần
  • Nhiễm trùng não hoặc tuỷ sống
  • Bệnh tim mạch
  • Chết

May mắn thay, nếu được phát hiện sớm, bệnh giang mai có thể dễ dàng điều trị bằng kháng sinh. Tuy nhiên, nhiễm trùng giang mai ở trẻ sơ sinh có thể gây tử vong. Đó là lý do tại sao điều quan trọng đối với tất cả phụ nữ mang thai là phải được sàng lọc bệnh này.

Bệnh giang mai được chẩn đoán và điều trị càng sớm thì càng ít thiệt hại.

Bệnh HIV

HIV có thể làm hỏng hệ thống miễn dịch và tăng nguy cơ nhiễm các loại vi rút hoặc vi khuẩn khác và phát triển một số bệnh ung thư. Nếu không được chữa trị, nó có thể dẫn đến HIV giai đoạn 3, được gọi là AIDS. Nhưng với phương pháp điều trị ngày nay, nhiều người nhiễm HIV không phát triển thành AIDS.

Trong giai đoạn đầu hay giai đoạn cấp tính, rất dễ nhầm lẫn các triệu chứng của HIV với các triệu chứng của bệnh cúm. Ví dụ, các triệu chứng sớm có thể bao gồm:

  • Sốt
  • Ớn lạnh
  • Nhức mỏi và đau
  • Hạch bạch huyết sưng
  • Viêm họng
  • Đau đầu
  • Nôn
  • Phát ban

Các triệu chứng ban đầu này thường hết trong vòng một vài tháng hoặc lâu hơn. Từ thời điểm đó trở đi, một người có thể mang HIV mà không tiến triển thành các triệu chứng nghiêm trọng hoặc kéo dài trong nhiều năm. Những người khác có thể tiến triển các triệu chứng không đặc hiệu, như là:

  • Mệt mỏi tái diễn
  • Sốt
  • Đau đầu
  • Vấn đề về dạ dày

HIện vẫn chưa có cách điều trị khỏi được bệnh HIV, nhưng có các lựa chọn điều trị để kiểm soát nó. Điều trị sớm và hiệu quả có thể giúp những người mắc HIV sống lâu như người không mắc HIV.

Điều trị thích hợp cũng có thể làm giảm nguy cơ lây truyền HIV cho bạn tình. Trên thực tế, việc điều trị có thể có tiềm năng làm giảm số lượng HIV ở cơ thể người xuống mức không thể phát hiện được. Theo báo cáo của CDC, ở mức không thể phát hiện được, HIV không thể lây truyền cho người khác.

Nếu không có xét nghiệm định kỳ, nhiều người mắc HIV không thể nhận ra mình mắc bệnh. Để thúc đẩy chẩn đoán và điều trị sớm, CDC khuyến cáo mỗi người ở độ tuổi từ 13 đến 64 nên kiểm tra ít nhất một lần. Những người có nguy cơ bị HIV cao nên được kiểm tra mỗi năm một lần, thậm chí ngay cả khi họ không có triệu chứng.

Xét nghiệm miễn phí và bảo mật có thể có ở các thành phố lớn và nhiều phòng khám y tế công cộng.

Với những tiến bộ gần đây trong xét nghiệm và điều trị, có thể sống lâu và sống khoẻ mạnh khi nhiễm HIV.

Bệnh lậu

Bệnh lậu là bệnh STD do vi khuẩn phổ biến khác.

Nhiều người mắc bệnh lậu phát triển thành không triệu chứng. Nhưng khi được phát hiện, các triệu chứng này có thể bao gồm:

  • Tiết dịch có màu trắng, vàng, be hay xanh từ dương vật hoặc âm đạo
  • Đau hoặc khó chịu trong quá trình giao hợp hoặc đi tiểu
  • Đi tiểu thường xuyên hơn bình thường
  • Ngứa xung quanh bộ phận sinh dục
  • Viêm họng

Nếu không được điều trị, bệnh lậu có thể dẫn đến:

  • Nhiễm trùng niệu đạo, tuyếnn tiền liệt hoặc tinh hoàn
  • Bệnh viêm vùng chậu
  • Hiếm muộn

Người mẹ có thể truyền bệnh lậu sang cho trẻ sơ sinh trong lúc sinh. Khi điều đó xảy ra, bệnh lậu có thể gây ra các vấn đề sức khoẻ trầm trọng ở em bé. Đó là lý do tại sao nhiều bác sĩ khuyến kích phụ nữ mang thai đi xét nghiệm và điều trị các bệnh STD tiềm ẩn.

Bệnh lậu thường có thể được điều trị bằng thuốc kháng sinh.

Bệnh Herpes

Bệnh herpes là một cái tên viết tắt của virus herpes simplex (HSV). Có hai chủng vi rút chính là, HSV-1 và HSV-2. Cả hai đều có thể lây truyền qua đường tình dục. Đây là bệnh STD rất phổ biến. Theo CDC có nhiều hơn 1 trong 6 người từ tuổi 14 đến 49 mắc herpes ở Hoa Kỳ.

HSV-1 là nguyên nhân chủ yếu gây mụn rộp ở miệng, nguyên nhân gây ra mụn rộp. Tuy nhiên, HSV-1 cũng có thể truyền từ miệng người này sang bộ phận sinh dục người khác khi quan hệ tình dục bằng miệng. Khi điều này xảy ra, HSV-1 có còn gây mụn rộp ở bộ phận sinh dục.

HSV-2 là nguyên nhân chủ yếu gây mụn rộp ở cơ quan sinh dục.

Triệu chứng phổ biến nhất của herpes là vết loét. Trong trường hợp mụn rộp ở bộ phận sinh dục, những vết loét này phát triển trên hoặc xung quanh bộ phận sinh dục. Ở miệng, chúng phát triển trên hoặc xung quanh miệng

Mụn rộp thường đóng vảy và lành trong vài tuần. Đợt bùng phát đầu thường gây đau đớn nhất. Các đợt bùng phát thường ít đau hơn và thường xuyên hơn theo thời gian.

Nếu phụ nữ mang thai mắc herpes, cô ấy có thể truyền bệnh cho thai nhi trong bụng mẹ hoặc cho đứa trẻ sơ sinh trong quá trình sinh nở. Cái gọi là mụn rộp có thể rất nguy hiểm đối với trẻ sơ sinh. Đó là lý do tại sao phụ nữ mang thai nhận thức được tình trạng HSV của mình là điều có lợi.

Chưa có cách chưa khỏi bệnh mụn rộp. Tuy nhiên, các loại thuốc có thể giúp kiểm soát sự bùng phát và giảm bớt cơn đau do mụn rộp. Cắc loại thuốc cũng có thể làm giảm khả năng truyền bệnh herpes cho bạn tình của bạn.

Điều trị hiệu quả và thực hành tình dục an toàn có thể giúp bạn có một cuộc sôgs thoải mái với bệnh herpes và bảo vệ những người khác khỏi vi rút.

Các bệnh STD khác

Các bệnh STD khác, ít phổ biến hơn bao gồm:

  • Bệnh hạ cam
  • Bệnh hột xoài
  • U hạt bẹn
  • U mềm lây
  • Bệnh ghẻ

Bệnh STD từ quan hệ tình dục bằng miệng

Quan hệ tình dục qua âm đạo và hậu môn không phải là cách duy nhất để lây truyền STD. Cũng có thể lây nhiễm hoặc lây truyền STD qua quan hệ tình dục bằng miệng. Nói cách khác, STD có thể truyền từ bộ phận sinh dục của một người sang miệng hoặc cổ họng của người khác và ngược lại.

Các bệnh lây qua đường miệng không hải lúc nào cũng được chú ý. Khi chúng gây ra các triệu chứng, chúng thường bao gồm đau họng hoặc vết loét quanh miệng hoặc cổ họng.

Bệnh STD có thể chữa khỏi

Nhiều bệnh STD được chữa khỏi. Ví dụ, các STD sau đây có thể chữa khỏi bằng thuốc kháng sinh hoặc phương pháp điều trị khác:

  • Bệnh chlamydia
  • Bệnh giang mai
  • Bệnh lậu
  • Bệnh rận mu
  • Bệnh trichomoniasis

Những bệnh STD khác có thể không được chữa khỏi. Ví dụ, các bệnh STD dưới đây hiện không thể chưa khỏi là:

  • HPV
  • HIV
  • Herpes

Tuy nhiên, ngay cả khi bệnh STD không thể chữa khỏi, nó vẫn có thể được quản lý. Điều quan trọng vẫn là phải được chẩn đoán sớm. Các lựa chọn điều trị thường có hiệu quả để giúp giảm bớt các triệu chứng và giảm nguy cơ lây truyền STD cho ai đó khác.

Bệnh STD và phụ nữ mang thai

Phụ nữ mang thai có thể truyền STD cho thai nhi trong khi mang thai hoặc trẻ sơ sinh trong quá trình sinh. Ở trẻ sơ sinh, STD có thể gây ra các biến chứng. Trong một số trường hợp, chúng có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Để giúp nagwn ngừa STD ở trẻ sơ sinh, các bác sĩ thường khuyến khích phụ nữ mang thai đi xét nghiệm và điều trị STD tiềm ẩn. Bác sĩ có thể đề nghị xét nghiệm STD ngay cả khi bạn không có các triệu chứng nào.

Nếu bạn có kết quả dương tính với một hoặc nhiều bệnh STD trong khi mang thai, bác sĩ có thể kê toa thuốc kháng sinh, thuốc kháng vi rút, hoặc các phương pháp điều trị khác. Trong một số trường hợp, họ có thể khuyến khích bạn sinh con bằng phương pháp mổ lấy thai để giảm nguy cơ lây truyền trong quá trình sinh.

Chẩn đoán bệnh STD

Trong hầu hết các trường hợp, bác sĩ không thể chẩn đoán STDs đơn giản chỉ dựa trên các triệu chứng. Nếu bác sĩ của bạn hoặc nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ khác nghi ngờ bạn có thể mắc STD, họ có thể sẽ đề xuất các xét nghiệm để kiểm tra

Tuỳ thuộc vào tiền sử quan hệ tình dục của bạn, nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của bạn có thể đề nghị xét nghiệm STD ngay cả khi bạn không có triệu chứng. Điều này là do STD không gây ra các triệu chứng đáng chú ý trong hầu hết các trường hợp. Nhưng ngay cả những bệnh lây truyền cho đường tình dục không có triệu chứng cũng có thể gây tổn thương hoặc lây truyền cho người khác.

Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có thể chẩn đoán hầu hết STD bằng cách sử dụng xét nghiệm nước tiểu hoặc máu. Họ cũng có thể lấy một phết mô nhỏ trong bộ phận sinh dục của bạn. Nếu bạn phát triển bất kỳ vết loét nào, họ cũng có thể phết lấy một ít của những vết loét đó.

Bạn có thể đi xét nghiệm STD tại phòng khám của bác sĩ hoặc phòng khám sức khoẻ tình dục.

Bộ dụng cụ xét nghiệm tại nhà cũng có hiệu quả với một số bệnh STD, nhưng chúng không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Bạn nên sử dụng chúng một cách thận trọng. Kiểm tra xem Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ có phê duyệt bộ thử nghiệm hay không trước khi mua nó.

Advertisement

Điều quan trọng cần biết là xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung không phải là xét nghiệm STD. Xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung để kiểm tra sự hiện diện của các tế bào tiền ung thư trên cổ tử cung. Mực dù nó có thể còn được kết hợp với xét nghiệm HPV, nhưng xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung âm tính không có nghĩa là bạn có bất kỳ bệnh STD nào.

Nếu bạn đã từng quan hệ tình dục, bạn nên hỏi nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của mình về xét nghiệm STD. Một số người có thể được lợi từ việc kiểm tra thường xuyên hơn những người khác.

Điều trị STD

Phương pháp điều trị được khuyến cáo cho STD rất khác nhau, tuỳ thuộc vào STD mà bạn mắc phải. Điều này rất quan trọng là bạn và bạn tình của bạn phải được điều trị thành công các bệnh STD trước khi tiếp tục hoạt động tình dục. Nếu không, bạn có thể truyền nhiễm trùng qua lại giữa bạn và họ.

STD do vi khuẩn

Thường, thuốc kháng sinh có thể điều trị dễ dàng nhiễm trùng do vi khuẩn.

Điều quan trọng là phải uống tất cả loại thuốc kháng sinh theo quy định. Tiếp tục dùng chúng ngay cả khi bạn cảm thấy đã khoẻ hơn trước khi dùng hết. Hãy cho bác sĩ của bạn biết nếu các triệu chứng của bạn không biến mất hoặc quay trở lại sau khi bạn đã uống hết tất cả các loại thuốc được kê đơn.

STD do vi rút

Thuốc kháng sinh không thể điều trị được STD do vi rút gây ra. Mặc dù hầu hết nhiễm trùng do vi rút đều không có cách chữa khỏi, nhưng một số có thể tự khỏi. Và trong nhiều trường hợp, các lựa chọn điều trị có hiệu lực để làm giảm các triệu chứng và giảm nguy cơ lây truyền.

Ví dụ, các loại thuốc có hiệu quả để giảm tần suất và mắc độ nghiêm trọng của các đợt bùng phát Herpes. Tương tự như vậy, điều trị có thể giúp ngăn chặn sự tiến triển của HIV. Hơn nữa, các thuốc kháng vi rút có thể làm giảm nguy cơ lây truyền HIV của bạn cho người khác.

STD không do vi khuẩn và vi rút

Một số STD không phải do vi rút hay vi khuẩn gây ra. Thay vào đó, chúng là do vi sinh vật nhỏ khác gây ra. Ví dụ bao gồm:

  • Rận mu
  • Bệnh Trichomoniasis
  • Bệnh ghẻ

Các bệnh STD thường có thể điều trị được bằng thuốc uống hoặc thuốc bôi. Hãy hỏi bác sĩ của bạn hoặc nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ khác để biết thêm thông tin về tìnhh trạng của bạn và các lựa chọn điều trị.

Phòng ngừa STD

Tránh việc quan hệ tình dục là cách tốt nhất để tránh STD. Nhưng khi quan hệ tình dục qua âm đạo, hậu môn hay đường miệng đều có nhũng cách giúp an toàn hơn.

Khi được sử dụng đúng cách, bao cao su cung cấp khả năng bảo vệ hiệu quả chống lại nhiều bệnh STD. Để được bảo vệ tối ưu, điều quan trọng là sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn và qua đường miệng. Bao cao su đường miệng cũng có thể bảo vệ khi quan hệ tình dục bằng miệng.

Nhìn chung, bao cao su có hiệu quả trong việc ngăn chặn STD lây lan qua chất lỏng, chẳng hạn như tinh dịch hoặc máu. Nhưng chúng không thể bảo vệ hoàn toàn chống lại các bệnh STD truyền từ da người này sang da người khác. Nếu bao cao su không bao bọc kín xung quanh khu vực da bị nhiễm trùng, một người vẫn có thể mắc bệnh STD hoặc truyền bệnh cho bạn tình của họ.

Bao cao su có thể giúp bảo vệ chống lại không chỉ bệnh STD, mà còn cả mang thai ngoài ý muốn.

Ngược lại, nhiều loại hình kiểm soát sinh đẻ khác làm giảm nguy cơ có thai ngoài ý muốn nhưng không phải là STD. Ví dụ, các hình thức kiểm doát sinh sản sau đây:

  • Thuốc tránh thai
  • Thuốc tiêm tránh thai
  • Que cấy tránh thai
  • Dụng cụ tử cung

Kiểm tra STD thường xuyên là một điều tốt cho bất kỳ ai có đang quan hệ tình dục. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người có một bạn tình mới hoặc nhiều bạn tình. Chẩn đoán và điều trị sớm có thể giúp ngăn chặn sự lây truyền các bệnh nhiễm trùng.

Trước khi quan hệ tình dục với một bạn tình mới, điều quan trọng là phải biết được lịch sử tình dục. Bạn tình cũng nên được một chuyên gia chăm sóc sức khoẻ kiểm tra STD. Vì các bệnh STD thường không có các triệu chứng nên xét nghiệm là cách duy nhất để biết được chính xác nếu ai đó mắc bệnh hay không.

Khi bàn luận về kết quả xét nghiệm STD, điều quan trọng là phải hỏi bạn tình xem hộ đã được xet nghiệm những gì. Nhiều người cho rằng bác sĩ đã khám sàng lọc STD cho họ như một phần trong quá trình chăm sóc sức khoẻ thường xuyên, nhưng điều đó không phải lúc nào cũng đúng. Cần yêu cầu bác sĩ làm các xét nghiệm về STD cụ thể để đảm bảo chúng được thực hiện.

Nếu bạn tình có kết quả xét nghiệm dương tính với STD, thì điều quan trọng là họ phải tuân theo kế hoạch điều trị được khuyến cáo của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ của họ. Bạn cũng có thể hỏi bác sĩ của mình về các chiến lược bảo vệ bản thân khỏi lây nhiễm STD từ bạn tình. Ví dụ, nếu bạn tình của bạn nhiễm HIV, bác sĩ của bạn có thể sẽ khuyến khích bạn thực hiện các biện pháp dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP).

Nếu đủ điều kiênh, bạn và bạn tình của mình cũng nên cân nhắc việc tiêm phòng HPV và viêm gan B.

Bằng cách làm theo đúng chiến lược này và các chiến lược khác, một người có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh STD và lây truyền cho người khác.

Sống chung với STD

Nếu một người có kết quả xét nghiệm STD dương tính, điều quan trọng đó là họ phải được điều trị càng sớm càng tốt.

Nếu họ mắc một bệnh STD, nó thường làm tăng khả năng mắc các bệnh khác. Một số bệnh STD cũng có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu không được điều trị. Trong trường hợp hiếm, không điều trị STD thậm chí có thể gây tử vong.

May mắn thay, hầu hết bệnh STD đều có thể điều trị được. Trong một số trường hợp, chúng có thể được chữa khỏi hoàn toàn. Trong các trường hợp khác, điều trị sớm và hiệu quả có thể giúp giảm các triệu chứng, giảm nguy cơ biến chứng cho bạn, và bảo vệ bạn tình.

Ngoài việc dùng thuốc theo chỉ định cho STDs, bác sĩ có thể khuyên một người điều chỉnh cả thói quen tình dục của họ để giúp bảo vệ chính họ và những người khác. Ví dụ, có thể sẽ khuyên họ rằng tránh quan hệ tình dục hoàn toàn cho đến khi nhiễm trùng được điều trị hiệu quả. Khi tiếp tục quan hệ tình dục, thì khuyến khích họ sử dụng bao cao su, bao cao su cho miệng hoặc các hình thức bảo vệ khác.

Tuân theo kế hoạch điều trị và phòng ngừa được khuyến nghị của bác sĩ có thể giúp cải thiện dài hạn với STD.

Nguồn: https://www.healthline.com/health/sexually-transmitted-diseases#symptoms-in-men

 

Bài viết được dịch thuật và biên tập bởi ykhoa.org – vui lòng không reup khi chưa được cho phép !

Người dịch: Thuỳ Linh

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu thuylinh98

Check Also

[Uptodate] Quản lý bệnh đái tháo đường nội viện – phần 2

Advertisement Bệnh nhân đái tháo đường típ 1 – Bệnh nhân đái tháo đường típ …