[Mô phôi số 12] Hệ sinh dục nam

Advertisement

 

 

– Đầu hình bầu dục, hơi dẹt, dài 4-5um, rộng 2m. Nhân lớn chiếm gần hết đầu tinh trùng. 

– Cổ là đoạn ngắn và hẹp, gắn thẳng trục với đầu. 

– Đuôi dài khoảng 55km, chia làm 3 đoạn: 

+ Đoạn trung gian: Dài khoảng 4-5um. Giữa đoạn trung gian và đoạn chính, màng tế bào dày lên tạo thành vòng Zensen. 

+ Đoạn chính: Dài nhất, khoảng 45km, gồm một dây trục nằm ở trung tâm, vây quanh bởi một bao sợi xơ và bọc ngoài bởi màng tế bào.

+ Đoạn cuối: Dài khoảng 2-3ụm, tạo thành bởi dây trục được bọc bởi màng tế bào. Quan sát dưới kính hiển vi điện tử: 

– Đầu tinh trùng chứa nhân ở phần phình nằm về phía giáp với cổ. Đoạn 2/3 trước của nhân được chụp bởi túi cực đầu có hình cái mũ. Thành túi có cấu tạo màng kép, gồm hai lá ngoài và trong (Hình 12-5). Lòng túi  chứa nhiều enzym có tác dụng tiêu huỷ các chướng ngại vật bao quanh noãn chín để tinh trùng tiến vào bào tương của noãn khi thụ tinh: Hyaluronidase, neuraminidase, acrosin…

Ở lá ngoài của túi cực đầu và phân bào tương phía trước lá này có một loại protein đặc hiệu gọi là protein gắn vào noãn nguyên phát (primary egg binding protein) có tác dụng gây ra kết dính giữa đầu tinh trùng và màng trong suốt bọc noãn trong quá trình thụ tinh. Ở lá trong của tủi cực đầu có một loại protein đặc hiệu khác gọi là protein gắn vào noãn thứ phát (secondary egg binding protein) có tác dụng gắn màng kép của túi cực đầu với màng trong suốt bọc noãn khi lớp bào tương mỏng ở phía trước túi cực đầu đã bị tiêu huỷ và lá ngoài của túi cực đầu bị rách trong quá trình tiếp xúc với màng trong suốt. Những protein này mang tính đặc hiệu cho loài, do đó sự gắn kết giữa tinh trùng và màng trong suốt của noãn chỉ xảy ra ở động vật cùng loài. 

– Ở cổ có tấm đáy, hổ cắm, tiểu thể trung tâm và 9 cột chia đoạn xếp thành hình ống. Dây trục nằm chính giữa cổ chạy suốt từ cổ đến chỗ tận cùng của đuối. Có 9 sợi đặc nối tiếp với 9 cột chia đoạn và tiến về phía đuối tinh trùng. Những ti thể hình que dài, xếp thành một hàng nằm ở phía bên ngoài và song song với cột chia đoạn ở đoạn trên cổ và sợi đặc ở đoạn đuôi.

– Đuôi

+ Đoạn trung gian có dây trục nằm chính giữa, 9 sợi đặc bao xung quanh. Bao ti thể được cấu tạo bởi những ti thể xếp với nhau theo kiểu xoắn ốc, cuốn quanh dây trục, được bọc bởi màng tế bào. 

+ Đoạn chính: Từ trung tâm ra ngoại vi gồm: Đây trục, 9 sợi đặc, bao xơ, màng tế bào. 

+ Đoạn cuối: Cấu trúc rất đơn giản, chỉ gồm dây trục bọc ngoài bởi màng tế bào.

1.1.3.2. Tinh trùng bất thường

Trong tinh dịch bình thường, tinh trùng có cấu tạo bất thường chiếm khoảng dưới 70% và gồm những loại chính:

+ Tinh trùng chưa trưởng thành: Phóng to một phần đoạn đầu, cổ và đuôi.

+ Tinh trùng có cấu tạo hình thái học bất thường: Đầu to hay nhỏ, tròn hay nhọn.

+ Tinh trùng già: Đầu lỗ rỗ vì bào tương có nhiều không bào chứa sắc tố.

+ Tinh trùng thoái hoá: Đầu bị biến dạng hay bị teo hoặc có hai đầu, hai đuôi.

1.2. Mô kẽ

Mô kẽ của tinh hoàn là mô liên kết xen vào giữa các ống sinh tinh (Hình 12-3). Đó là mô liên kết thưa, chứa những tế bào trung mô kém biệt hoá, tế bào sợi, đại thực bào, dưỡng bào và các tế bào đa diện hay hình cầu được gọi là tế bào kẽ tinh hoàn (tế bào Leydig), hoặc đứng cô độc hoặc họp thành đám, chúng có quan hệ mật thiết với các mao mạch máu để tạo ra tuyến nội tiết kiểu tản mát gọi là tuyến kế tinh hoàn, tuyến này tiết ra testosterone có tác dụng kích thích quá trình tạo tinh trùng, duy trì sự hoạt động của các tuyến phụ thuộc đường dẫn tinh và phát triển các giới tính nam thứ phát: Mọc râu, giọng nói trầm…

1.3. Tinh dịch đồ trong giới hạn bình thường ở người (theo Tổ chức Y tế Thế giới-1999)

– Màu sắc thường trắng đục, đồng nhất. 

– Thời gian ly giải <30′ ở nhiệt độ 37°C. 

– Thể tích 22ml. – 7,82 pH 27,2 

– Mật độ tinh trùng >20.10$/ml. 

– Tổng số tinh trùng mỗi lần phóng tinh 240.106.

 – Tỉ lệ tinh trùng di động tiến tới nhanh >25%; tỉ lệ tinh trùng di động

nhanh và di động chậm 250%.

 – Tỉ lệ tinh trùng hình thái bình thường 230%.

  1. NHỮNG ĐƯỜNG DẪN TINH

Gồm có: Ống thẳng, lưới tinh (lưới Haller), ống ra, ống mào tinh, ống tinh,, ống phóng tinh (Hình 12-1 và 12-2).

Advertisement

2.1. Ống thẳng và lưới tinh

Thành được cấu tạo bởi biểu mô vuông đơn hay trụ đơn, mặt tự do của tế bào biểu mô có nhiều vi nhung mao và có một lông.

2.2. Ống ra

 Biểu mô lợp thành ống là biểu mô trụ đơn gồm ba loại tế bào: Tế bào không có lông, tế bào có lông và tế bào đáy.

2.3. Ống mào tinh

 Thành ống được cấu tạo bởi biểu mô trụ giả tầng gồm ba loại tế bào: Tế bào chính, tế bào sáng màu và tế bào đáy, lót ngoài là một tầng cơ.

2.4. Ống tinh

Thành ống có ba tầng mô.

2.4.1. Tầng niêm mạc

Tầng này có những nếp gấp khá cao. Biểu mô phủ niêm mạc là biểu mô trụ giả tầng giống biểu mô phủ ống mào tinh. Lớp đệm là một mô liên kết chứa nhiều sợi chun.

2.4.2. Tầng dưới niêm mạc

Cấu tạo bởi mô liên kết.

2.4.3. Tầng cơ

Khá dày, gồm ba lớp cơ trơn: Lớp trong hướng dọc, lớp giữa hướng vòng và lớp ngoài hướng dọc. 

2.5. Ống phóng tinh

Nếp gấp niêm mạc thấp. Biểu mô phủ niêm mạc là biểu mô vuông đơn trụ đơn hay trụ giả tầng và không có lông. Trong lớp đệm có những tĩnh mạch lớn.

  1. NHỮNG TUYẾN PHỤ THUỘC CÁC ĐƯỜNG DẪN TINH

Những tuyến phụ thuộc các đường dẫn tinh gồm túi tinh, tuyến tiền liệt, tuyến hành niệu đạo (tuyến Cowper) và tuyến niệu đạo (tuyến Littre). 

3.1. Túi tinh

 Có hai túi tinh, nằm ở phía sau cổ bàng quang, đầu dưới mở vào bóng ông tỉnh. Mỗi túi tinh gồm một hay nhiều ống xoắn như lò xo. Thành ống, từ trong ra ngoài gồm ba tầng mô.

3.1.1. Tầng niêm mạc

 – Biểu mô phủ niêm mạc: Là biểu mô trụ giả tầng gồm hai loại tế bào: Tế bào chế tiết và tế bào đáy.

– Lớp đệm: Là mô liên kết chứa nhiều sợi chung

3.1.2. Tầng cơ

Tầng cơ gồm hai lớp cơ trơn: Lớp trong hướng vòng, lớp ngoài hướng dọc. 3.1.3. Tầng vỏ ngoài

Cấu tạo bởi mô liên kết chun, chứa mạch, dây thần kinh.

3.2. Tuyến tiền liệt (Hình 12-6 và Hình 12-7).

Tuyến tiền liệt là tuyến lớn nhất. Nó nằm ngay dưới bàng quang và được bọc bởi một vỏ xơ chứa những sợi cơ trơn. Vỏ xơ này tiến vào trong tuyến tạo thành một nền liên kết. Ngoài ra, còn có những vách liên kết ngăn tuyến tiền liệt thành nhiều thuỳ.

Tuyến tiền liệt là một tập hợp nhiều tuyến ngoại tiết kiểu ống-túi phức tạp. Mỗi thuỳ là một tuyến riêng biệt vì có ống bài xuất mở vào niệu đạo tiền liệt, ông này chia nhiều nhánh ngày càng nhỏ và các nhánh lại phình ra thành

những túi có chu vi khúc khuỷu. Các nhánh thì xếp thành bạ lớp đồng tâm quây xung quanh niệu đạo, tạo thành ba lớp nhu mô tuyến.

Những đơn vị cấu tạo tuyến tiền liệt (đơn vị ống túi) có hình dáng khác nhau. Lòng của chúng nơi hẹp, nơi phình to ra thành năng tuyến. Niêm mạc tuyến có những nếp nhăn lối vào lòng tuyến,

3.2.1. Biểu mô

Biểu mô tuyến tiền liệt cấu tạo bởi hai loại tế bào: Tế bào chế tiết và tế bào đáy.

3.2.2. Lớp đệm

Là mô liên kết chứa những tế bào sợi, những sợi collagen, sợi chun và chứa những bó sợi cơ trơn.

 Dịch tiền liệt chứa trong lòng tuyến xuất hiện dưới dạng hạt và có thể chứa những tế bào biểu mô bị bong. Trong lòng tuyển còn có những khối hình cầu hay hình trứng, to nhỏ không đều và có cấu tạo gồm những lớp đồng tâm gọi là kết thể tiền liệt, có thành phần hoá học chủ yếu là glycoprotein và là nơi lắng đọng muối vôi. Người càng già, kết thể tiền liệt càng nhiều, càng làm lắng đọng muối vôi và là nguồn gốc của sỏi tiền liệt.

Tuyến tiền liệt sản xuất ra dịch tiền liệt rồi bài xuất vào niệu đạo tiền liệt khi phóng tinh. Dịch tiền liệt là một chất lỏng, trắng như sữa, có tính acid, chứa nhiều acid amin, nhiều enzym, các phosphatase.. Dịch tiền liệt có tác dụng kích thích sự chuyển động của tinh trùng trong các đường dẫn tinh.

3.3. Tuyến hành niệu đạo (tuyến Cowper)

 Có hai tuyến hành niệu đạo nằm ngay phía sau hành niệu đạo. Mỗi tuyến là một tuyến kiểu ống-túi và được chia thành những tiểu thuỳ bởi các vách liên kết cấu tạo bởi những sợi collagen, sợi chun và chứa những bó sợi cơ trơn và có vấn.

 Mỗi tuyến gồm những ông chia nhánh cong queo. Đầu kín các nhánh phình to thành những nang tuyến nằm trong các tiểu thuỳ. Những ông chia nhánh họp lại thành một ông lớn hơn, phinh to, gọi là bóng. Rồi những bóng của nhiều tiểu thuỳ họp lại thành một ống bài xuất mở vào đoạn gần niệu đạo dương vật.

3.4. Tuyển niệu đạo (tuyến Littre)

Niêm mạc niệu đạo có những chỗ lõm vào thể xốp tạo thành những khoảng trống. Mở vào những khoảng trống này có những tuyến ngoại tiết, kiểu túi tiết nhất, gọi là tuyến niệu đạo hay tuyển Littre. Những tuyến này

nằm trong lớp đệm của niệu đạo. Biểu mô tuyến có cấu tạo tương tự biểu mô phủ niệu đạo dương vật.

4.DƯƠNG VẬT

Dương vật, cơ quan giao cấu, được bọc ngoài bởi da, cấu tạo bởi niệu đạo trước được vây quanh bởi những mạch máu rất phát triển để tạo thành những cơ quan cương gồm hai thể hang và một thể xốp (Hình 12-8). Chúng được cấu tạo bởi mô cương. Mô cương là một mô liên kết – cơ, chứa những hốc máu, những động mạch lò xo và những nhánh của chúng để dẫn máu các hốc và những tĩnh mạch để dẫn máu trở về hệ tuần hoàn chung.

Khi dương vật mềm, những hốc máu chỉ là những khe hình chữ V, H, X, Y. Khi của thể xốp dương vật bị kích thích, những sợi cơ trơn đọc của các tiểu động mạch co lại, kéo các vòng chun giãn ra làm cho máu từ các tiểu động mạch ùa vào trong các hốc máu. Lúc bấy giờ các bó cơ ở chung quanh các hốc máu co lại làm cho các tĩnh mạch bị ép dẹt lại. Những sợi chun không bị các bó sợi co dọc kéo nữa, co lại và bịt miệng những tĩnh mạch. Máu ở trong các hốc không thoát đi đâu được, lại bị ép bởi các bó cơ nên đương vật cương lên và rất cứng. Thể xốp cũng đài ra và phồng lên vì những tĩnh mạch của nó bị giãn nhưng không cứng như hai thể hang. Khi những bó cơ giãn ra, máu thoát đi bằng đường tĩnh mạch, dương vật lại mềm.

TỰ LƯỢNG GIÁ

  1. Hãy mô tả cấu tạo đại cương tinh hoàn.
  2. Hãy mô tả cấu tạo tế bào Sertoli và nếu chức năng của nó. 
  3. Hãy mô tả cấu tạo của các tinh nguyên bào. 
  4. Hãy mô tả cấu tạo của tinh bào 1 và tinh bào 2. 
  5. Hãy mô tả cấu tạo của tiền tinh trùng và nêu những biến đổi của nó để trở thành tinh trùng. 
  6. Hãy mô tả cấu tạo vị thế và siêu vi thể của tinh trùng.
  7. Vẽ và mô tả sơ đồ sự phát triển các tế bào dòng tinh. 
  8. Hãy mô tả cấu tạo của các đường dẫn tinh.
  9. Hãy mô tả cấu tạo của tuyến kế tinh hoàn và nếu chức năng của nó. 
  10. Hãy mô tả cấu tạo của tuyến tiền liệt.

NGUỒN: MÔ – PHÔI PHẦN MÔ Học – SÁCH ĐÀO TẠO BÁC SĨ ĐA KHOA – NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC HÀ NỘI – 2007 Chủ biên: GS.TS. TRỊNH BÌNH

Xem tất cả mô phôi tại: https://ykhoa.org/category/mo-phoi/

 

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu nghuyen

Check Also

[Giải phẫu số 17] Tĩnh mạch – bạch mạch đầu mặt cổ

Advertisement TĨNH MẠCH ĐẦU MẶT CỔ Các tĩnh mạch của đầu và cổ có thể …