Dịch từ: Polyendocrine metabolic ovarian syndrome, the new name for polycystic ovary syndrome: a multistep global consensus process (The Lancet)

Những cái tên tiềm năng
Trong hội thảo A, các thuật ngữ được ưu tiên đã được kết hợp thành các tên ứng cử viên (bảng 3) và được đánh giá về sự trùng lặp, cách phát âm, sự kỳ thị và ý nghĩa văn hóa. Một số thuật ngữ đã bị loại trừ (ví dụ: hội chứng chuyển hóa nội tiết sinh sản, vì từ viết tắt của nó sẽ trùng với hội chứng hô hấp Trung Đông). Hội chứng rụng trứng chuyển hóa nội tiết, mặc dù ban đầu được xếp hạng cao nhất, nhưng được phát hiện là trùng lặp với tiểu văn hóa thanh niên emo, trong đó việc thể hiện cảm xúc – đặc biệt là sự u sầu, xa lánh, tuyệt vọng trong tình yêu và lo lắng – là trọng tâm của việc hình thành bản sắc. Những vấn đề này, cùng với những lo ngại về thuật ngữ sinh sản phù hợp nhất, đã ngăn cản việc đạt được sự đồng thuận về một tên gọi mới cuối cùng và nhấn mạnh sự cần thiết của các quy trình tham vấn sâu rộng hơn.


Các bước bổ sung
Xem xét lại tất cả các phản hồi khảo sát và các cuộc thảo luận nhóm, cùng với việc xem xét lại các thuật ngữ thay thế được đa số ủng hộ, đã làm nổi bật “đa nội tiết” và “buồng trứng” như những thuật ngữ thay thế tiềm năng. Đánh giá miễn phí từ các chuyên gia hàng đầu tại một công ty tiếp thị toàn cầu, bao gồm cả việc sử dụng tiếp thị trí tuệ nhân tạo, đã không xác định được bất kỳ thuật ngữ hoặc tên gọi bổ sung nào ngoài những thuật ngữ đã được xem xét. Khuyến nghị là tái định vị tên gọi theo hướng tiến bộ – hỗ trợ sự liên tục với tên gọi hoặc từ viết tắt hiện có và cập nhật hơn là mang tính cách mạng, khi vào thời kỳ mới. Khảo sát B vào tháng 1 năm 2026 đã thu được 1346 phản hồi (từ 1053 người mắc PCOS và 293 chuyên gia y tế) từ khắp các khu vực trên thế giới. Các thuật ngữ được trình bày bao gồm buồng trứng (ovary) và rụng trứng (ovulatory), trong đó rụng trứng (ovulatory) được xếp hạng cao nhất trong các cuộc khảo sát (bảng 3); phân tích chủ đề các phản hồi văn bản tự do đã xác nhận những hạn chế của các thuật ngữ này, với sự thể hiện không đầy đủ về các rối loạn buồng trứng, nội tiết và nang trứng, và sự không liên quan sau thời kỳ mãn kinh. Thuật ngữ đa nội tiết (polyendocrine) được đưa vào như một lựa chọn, bên cạnh nội tiết (endocrine) dựa trên sự ủng hộ đa số từ khảo sát A, những lo ngại trong hội thảo về ý nghĩa văn hóa của từ viết tắt EMOS, và vì nó mang đến một cách tiếp cận tiếp thị mang tính tiến hóa, tương tự như từ viết tắt hiện tại, PCOS. Các bài thuyết trình và nhóm thảo luận trong hội thảo B đã xem xét tất cả các kết quả khảo sát và các bình luận tự do về các thuật ngữ liên quan đến buồng trứng (ví dụ: “rụng trứng” và “buồng trứng” từ khảo sát A, và “buồng trứng” từ các khảo sát trước đó, với 62% người mắc PCOS và 67% chuyên gia y tế ủng hộ thuật ngữ sau trong các khảo sát). Cuối cùng, việc bỏ phiếu trong hội thảo đã ưu tiên buồng trứng (ovarian) (bao gồm các rối loạn nội tiết, nang trứng và phóng noãn) hơn là “ovary” hoặc “ovulatory”.
Tên mới
Tên được xếp hạng cao nhất trong khảo sát B là hội chứng nội tiết chuyển hóa rụng trứng. Hội thảo B đã sửa đổi tên này thành hội chứng nội tiết chuyển hóa buồng trứng. Tất cả người tham gia đều ủng hộ tên mới, ngoại trừ hai người không ủng hộ việc thay đổi tên. Nhu cầu chú trọng cẩn thận trong việc dịch thuật ngôn ngữ cũng được nêu bật.
Thực hiện
Chiến lược triển khai được thiết kế chung đã được trình bày và thảo luận trong các nhóm nhỏ của hội thảo. Phản hồi cá nhân được thu thập từ các nhóm nhỏ và thông qua các cuộc khảo sát trực tuyến để hoàn thiện chiến lược (hình 4).

Xem toàn văn bài báo gốc tại đây: https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(26)00717-8/fulltext
Tác giả: Lê Thị Thảo Hiền.
Hiệu đính: Nguyễn Hữu Tài, Phạm Văn Hòa.
Y khoa Diễn đàn Y khoa, y tế sức khoẻ, kiến thức lâm sàng, chẩn đoán và điều trị, phác đồ, diễn đàn y khoa, hệ sinh thái y khoa online, mới nhất và đáng tin cậy.