Băng huyết sau sinh (Phần 1): Đại cương, nguyên nhân, giai đoạn

5/5 - (1 bình chọn)

1. Đại cương

Mỗi năm trên thế giới có khoảng nửa triệu người chết vì các vấn đề liên quan đến thai sản và sinh đẻ. Một phần lớn trong số này là do băng huyết sau sinh. Mặc dù đã có những tiến bộ lớn trong chăm sóc sản khoa thiết yếu và hồi sức, nhưng cuộc sanh vẫn được xem là biến cố có rủi ro tử vong cao. [2]

1.1. Định nghĩa

– Băng huyết sau sinh (BHSS) là tình trạng xảy ra trong vòng 24 giờ sau sinh (đặc biệt là trong 2 giờ đầu) khi tổng lượng máu mất đo được bằng túi đong máu ≥ 500 ml hoặc ≥ 300 ml kèm theo bất kỳ dấu hiệu bất thường nào về huyết động dưới đây: 

+ Mạch > 100 nhịp/phút.

+ Huyết áp tâm thu <100 mmHg hoặc huyết áp tâm trương <60 mmHg. [1]

+ Chỉ số sốc (Shock index – SI) hay chỉ số sốc sản khoa (Obstetric Shock Index – OSI): giúp phát hiện sớm tình trạng BHSS và nhạy cảm hơn với những thay đổi về huyết động so với các dấu hiệu sinh tồn riêng lẻ hoặc ước tính trực quan về lượng máu mất.

• Công thức OSI= nhịp tim (HR)/huyết áp tâm thu (SBP)

• Giá tri:

* Bình thường: SI = 0,7-0,9.

* Nếu SI > 0,9: có thể cần can thiệp khẩn cấp để phục hồi sự ổn định huyết động

* Nếu SI > 1: tăng khả năng truyền máu

• Hạn chế:

* Phương pháp này có thể không chính xác trong việc phát hiện BHSS trong quá trình mổ lấy thai

* Các yếu tố như sử dụng một số loại thuốc hoặc thuốc giảm đau ngoài màng cứng có thể ảnh hưởng đến OSI. [3]

– Băng huyết sau mổ sinh là tình trạng máu mất ≥ 1.000 mL sau mổ [4]

1785254905427

1.2. Nguyên nhân 

1.2.1. Đờ tử cung

– Đờ tử cung là nguyên nhân chủ yếu gây BHSS. Cầm máu cơ học bằng co hồi tử cung với sự siết chặt vết thương hở mạch máu ở diện nhau bám là cơ chế chính của cầm máu. Trong đờ tử cung sau sanh, các cơ đan chéo không hoạt động, làm mất khả năng thắt miệng của các chỗ hở của các mạch máu nơi diện nhau bám làm cho cầm máu cơ học không thể xảy ra. 

– Thật ra thì thuật ngữ đờ tử cung là một thuật ngữ tổng quát, thể hiện rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hậu quả là tử cung không co hồi được để thực hiện cầm máu cơ học:

+ Tử cung không còn đủ sức co hồi sau một chuyển dạ kéo dài có hay không có tăng co với oxytocin. 

+ Tử cung quá căng trong suốt thai kỳ có đa thai, đa ối, con to. 

+ Chất lượng cơ tử cung kém do sanh đẻ nhiều lần. 

+ Nhiễm trùng trong chuyển dạ cũng là một nguyên nhân phổ biến khác của đờ tử cung. [2]

+ Lộn tử cung

+ Tiền căn băng huyết sau sinh [5]

– Yếu tố nguy cơ:

+ Chảy máu trước sinh

+ Chuyển dạ kéo dài

+ Sử dụng oxytocin kéo dài

+ Khởi phát chuyển dạ

+ Sinh giúp

+ Thuốc cắt gò tử cung

+ Gây mê toàn thân

+ Tình trạng tử cung giãn quá mức do đa thai, đa ối, thai to, bất thường cấu trúc tử cung, u xơ tử cung [3]

+ Nhiễm trùng ối

+ Giảm đau sản khoa

+ Kéo dây rốn quá mức 

+ Dây rốn ngắn

+ Nhau bám đáy tử cung [5]

– Thất bại của cầm máu cơ học các chảy máu từ diện bám không hẳn luôn luôn là do đờ tử cung. Trong trường hợp nhau bám ở vị trí bất thường trên đoạn dưới của tử cung, dù tử cung không bị đờ, thậm chí co hồi rất tốt, thì vẫn có băng huyết sau sanh. Trong trường hợp này, hoạt động của cơ đan chéo không giúp đỡ cho việc cầm máu, do các cơ này chỉ hiện diện ở phần thân tử cung mà không hiện diện ở đoạn dưới. Chảy máu từ vị trí nhau bám không do đờ tử cung đòi hỏi một can thiệp khác hẳn với can thiệp cho chảy máu từ vị trí nhau bám do đờ tử cung. [2]

1.2.2. Chấn thương đường sinh dục (đặc biệt là vỡ tử cung)

+ Tổn thương đường sinh dục là một nguyên nhân gây băng huyết sau sanh khá phổ biến.

+ Cuộc sanh có thể dẫn đến tổn thương ở một hay nhiều vị trí trên đường sinh dục. Có thể chỉ là tổn thương các mạch máu lớn ở tầng sinh môn do rách tầng sinh môn-âm đạo, nhưng tổn thương có thể xảy ra ở các vị trí cao hơn như cổ tử cung, hay thậm chí là tổn thương khối cơ tử cung tức vỡ tử cung. [2]

– Nguyên nhân:

+ Cắt tầng sinh môn

+ Tổn thương âm đạo 

+ Rách cổ tử cung 

+ Vỡ tử cung

– Yếu tố nguy cơ:

+ Sinh giúp

+ Sinh nhanh [5]

1.2.3. Bất thường về bong rau, sổ rau

– Nguyên nhân:

+ Sót nhau, màng nhau hoặc ứ máu lòng tử cung

+ Nhau cài răng lược [3]

– Yếu tố nguy cơ:

+ Có bánh nhau phụ 

+ Tiền căn mỗ lấy thai 

+ Số nhau bất toàn [5]

1.2.4. Rối loạn đông máu

– Rối loạn đông máu khá hiếm, nhưng một khi đã xảy ra băng huyết sau sanh do rối loạn đông máu thì tiên lượng thường rất nặng. [2] 

– Nguyên nhân:

+ Bệnh lý đông cầm máu bẩm sinh hoặc mắc phải (TSG, hội chứng HELLP) 

+ Nhau bong non

+ Thai chết lưu 

+ Nhiễm trùng nặng, thuyên tắc ối

+ Đang điều trị kháng đông 

+ Giảm tiểu cầu

+ Thiếu máu/Suy tủy [5]

– Rối loạn đông máu có thể là: 

+ Có từ trước chuyển dạ  

+ Mới xuất hiện trong chuyển dạ  

+ Nguyên phát  

+ Thứ phát 

– Rối loạn đông máu có thể là có từ trước chuyển dạ như trong hội chứng tiêu sợi huyết thấy trong thai chết lưu, hay tiêu hao tiểu cầu trong hội chứng HELLP của tiền sản giật, hay trong các trường hợp hiếm hoi của các bệnh lý rối loạn đông máu thụ đắc hay bẩm sinh như bệnh máu không đông bẩm sinh do thiếu yếu tố đông máu, xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn…. 

– Rối loạn đông máu có thể chỉ xuất hiện trong chuyển dạ như hội chứng đông máu nội mạch rải rác (Dissemiated Intravascular Coagulation) (DIC) hậu quả của tình trạng choáng phản vệ trong thuyên tắc ối, hay hậu quả của tăng tiêu thụ trong bệnh lý nhau bong non. [2]

– Yếu tố nguy cơ:

+ Mảng bầm/chấm xuất huyết

+ Nhau bong non

+ Sốt nhiễm trùng huyết 

+ Đang điều trị bệnh lý huyết khối

+ Sốt xuất huyết [5]

– Băng huyết sau sanh gây rối loạn đông máu do tiêu thụ và rối loạn đông máu do băng huyết sau sanh làm cho băng huyết sau sanh trở thành rất nặng không còn kiểm soát được nữa. [2]

1.3. Phân loại

– Băng huyết sau sinh sớm hay nguyên phát: xảy ra trong vòng 24 giờ đầu.

– Băng huyết sau sinh muộn hay thứ phát: xảy ra từ 24 giờ đến 12 tuần sau sinh. [4]

2. Đánh giá giai đoạn mất máu

– Giai đoạn 0: Tổng lượng máu mất dưới 500ml, chưa có thay đổi về huyết động.

– Giai đoạn 1: Tổng lượng máu mất từ 500ml cho đến 1000ml mà chưa kèm theo các dấu hiệu suy giảm khối lượng tuần hoàn. Hoặc lượng máu mất ≥300 mL kèm theo bất kỳ dấu hiệu bất thường nào về huyết động (mạch>100 nhịp/phút, chỉ số sốc >1, huyết áp tâm thu<100 mmHg hoặc huyết áp tâm trương <60 mmHg).

– Giai đoạn 2: Tổng lượng máu mất < 1500ml, chảy máu tiếp diễn kèm theo các dấu hiệu sinh tồn không ổn định.

– Giai đoạn 3: Chảy máu tiếp diễn với tổng lượng máu mất hơn 1500 ml, bất thường ở các dấu hiệu sinh tồn hoặc có nghi ngờ xảy ra tình trạng đông máu rải rác trong lòng mạch. [1]

Cap cuu bang huyet sau sinh

​TÀI LIỆU THAM KHẢO

​[1] Bộ Y tế. (2026). Hướng dẫn quốc gia các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, nội dung chảy máu sản khoa. Băng huyết sau đẻ (11-15).

[2] Âu, N. L., Phạm, V. Đ. (2020). Dự phòng băng huyết sau sanh. Can thiệp tích cực giai đoạn 3 của chuyển dạ. Chuyển dạ bình thường. TBL Phụ Khoa.

[3] Bệnh viện Từ Dũ (2025). Băng huyết sau sinh khối lượng lớn. Phác đồ điều trị Sản Phụ Khoa 2025 (16-26).

[4] Bệnh viện Hùng Vương (2024). Xử trí băng huyết khi mổ sinh. Phác đồ điều trị Sản Phụ Khoa (579-582).

[5] Bệnh viện Hùng Vương (2024). Xử trí băng huyết sau sinh. Phác đồ điều trị Sản Phụ Khoa (583-592).

Tác giả: Lê Thị Thảo Hiền.

Hiệu đính: Nguyễn Hữu Tài, Phạm Văn Hòa.

Advertisement

Giới thiệu BS Thảo Hiền

Xem các bài tương tự

dauhieuchuyenda

Tiếp cận các dấu hiệu chuyển dạ: Hướng dẫn thực chiến tại nhà giúp mẹ bầu nhận biết thời điểm vàng đến viện

Chuyển dạ là một quá trình sinh lý tự nhiên đánh dấu sự kết thúc …