[Case lâm sàng 155] Tăng sản lành tính tiền liệt tuyến

Advertisement

Một người đàn ông 63 tuổi vào viện vì đái khó và cảm giác không thể đái hết nước tiểu trong bàng quang 6 tháng vừa qua. Sau khi tiểu xong, bệnh thường vẫn cảm thấy mót tiểu và muốn đi tiểu lại. Không chảy dịch niệu đạo và không đau khi đi tiểu. Tiền sử có tăng huyết áp nhẹ điều trị bằng lợi tiểu thiazide, và có 2 đợt nhiễm trùng đường tiết niệu được điều trị bằng ampicillin trong năm vừa qua. Khi thăm khám, bệnh nhân không sốt, huyết áp 130/84 mmHg, nhịp tim 80 ck/phút. Khám tim và phổi bình thường, khám bụng không phát hiện khối bất thường.

  • Chẩn đoán có khả năng nhất?
  • Áp dụng giải phẫu giải thích các triệu chứng ở bệnh nhân này?

LỜI GIẢI ĐÁP:

Tăng sản lành tính tiền liệt tuyến (BPH)

Tóm tắt: Một người đàn ông 63 tuổi vào viện vì đái khó và đái không hết trong 6 tháng qua nhưng không có chảy dịch niệu đạo hay đau khi đi tiểu. Bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp và đã có 2 lần nhiễm trùng đường tiết niệu.

  • Chẩn đoán có khả năng nhất: tăng sản lành tính tiền liệt tuyến
  • Cơ chế giải phẫu của các triệu chứng: chèn ép cổ bàng quang hay niệu đạo tiền liệt tuyến

TƯƠNG QUAN LÂM SÀNG

Tuyến tiền liệt tuyến sinh dục phụ lớn nhất ở nam giới, các chất tiết của nó góp phần vào tinh dịch. Tuyến có bao bao phủ này nằm trong chậu hông, giữa cổ bàng quang và cơ thắt niệu đạo, và vây quanh đoạn đầu tiên của niệu đạo nam hay niệu đạo tiền liệt tuyến. Tăng sản lành tính tiền liệt tuyến (BPH), là tình trạng tăng kích thước tuyến tiền liệt gặp phổ biến ở nam giới từ 50 tuổi trở lên và dường như phụ thuộc vào tuổi và nồng độ hormon. Xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) và khám trực tràng bằng tay (DRE) sẽ được thực hiện để đánh giá kích thước tuyến và sự hiện diện của các nốt bất thường mà có thể gợi ý ung thư biểu mô. Điều trị ban đầu sau khi chẩn đoán xác định BPH thường là điều trị nội khoa bằng thuốc chẳng hạn như thuốc ức chế 5-α-reductase (làm giãn cơ trơn trong lớp đệm của tuyến và do đó làm tăng đường kính niệu đạo). Các thuốc khác có tác dụng chẹn tác động của các chất chuyển hóa testosterone lên mô tuyến, dẫn đến thu nhỏ mô tuyến cũng có thể được sử dụng. Trong những trường hợp tiến triển, có thể cần phải phẫu thuật cắt bỏ mô tuyến tiền liệt qua đường niệu đạo. Mặc dù chưa có bằng chứng nào về mối quan hệ trực tiếp nào giữa BPH và ung thư tiền liệt tuyến, nhưng cả hai xảy ra ở các bệnh nhân trong cùng một nhóm tuổi.

TIẾP CẬN:

Cơ quan sinh dục trong của giới nam

MỤC TIÊU

  • Mô tả được giải phẫu của các cơ quan sinh dục trong của giới nam: ống dẫn tinh, túi tinh, ống phóng tinh, tuyến tiền liệt và tuyến hành niệu đạo
  • Mô tả được giải phẫu của đường tiết niệu nam

ĐỊNH NGHĨA

  • TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TIỀN LIỆT TUYẾN (BPH – BENIGN PROSTATIC HYPERPLASIA): tăng kích thước mang tính chất lành tính của tuyến tiền liệt, do được bọc bởi một bao nên khi tăng kích thước sẽ chèn ép vào niệu đạo
  • ĐÁI KHÓ (URINARY HESITANCY): mất nhiều thời gian để bắt đầu dòng tiểu
  • CẮT TIỀN LIỆT TUYẾN QUA ĐƯỜNG NIỆU ĐẠO (TURP – TRANSURETHRAL RESECTION OF THE PROSTATE): phẫu thuật trong đó phẫu thuật viên cắt bỏ mô tuyến tiền liệt từ niệu đạo tiền liệt để làm giảm tắc nghẽn

BÀN LUẬN

Cặp ống dẫn tinh đi qua ống bẹn và lỗ bẹn sâu để vào bụng, nơi chúng nằm sau phúc mạc. Chúng bắt chéo các mạch chậu ngoài và mặt trên ngoài của bàng quang, tiếp tục ở trên chỗ niệu quản đổ vào bàng quang (cách nhớ: “nước ở dưới cầu”), và đến được mặt sau của bàng quang, ngay trước túi cùng trực tràng bàng quang. Phần cuối của ống dẫn tinh phình ra để tạo nên bóng ống dẫn tinh. Phía ngoài 2 bóng ống dẫn tinh là cặp tuyến tinh nằm theo đường chéo. Những tuyến sinh dục phụ này tạo ra thành phần kiềm của tinh dịch, giúp trung hòa môi trường axit trong âm đạo. Ống của mỗi tuyến tinh kết hợp với ống dẫn tinh mỗi bên để tạo nên các ống phóng tinh, sau đó 2 ống phóng tinh đi về phía trước dưới xuyên qua tuyến tiền liệt để mở vào ụ núi ở thành của niệu đạo tiền liệt (Hình 31-1).

Tuyến tiền liệt là tuyến sinh dục phụ lớn nhất ở nam giới, hình tháp đảo ngược với kích thước tương đương một quả óc chó (walnut). Đáy tuyến nằm dưới cổ bàng quang, đỉnh tuyến tựa trên cơ thắt niệu đạo. Tuyến tiền liệt có một bao xơ dày, bao xơ này lại được bao quanh bởi một bao xơ mà liên tiếp với dây chằng mu tiền liệt. Cơ nâng hậu môn nâng đỡ cho tuyến ở phía dưới ngoài, trong khi mặt trước tuyến được bao phủ bởi các sợi của cơ thắt niệu đạo. Theo giải phẫu, tuyến tiền liệt được chia thành 4 thùy. Thùy trước nằm phía trước niệu đạo, cấu tạo bởi cơ sợi, được coi là sự tiếp tục của cơ thắt niệu đạo ở phía trên. Thùy sau

Advertisement
nằm trên đường giữa, phía sau niệu đạo, và sờ thấy được khi thăm trực tràng bằng tay (DRE). Các thùy bên ở mỗi bên của thùy sau tạo nên phần lớn nhất của tuyến và cũng có thể sờ thấy được khi thăm trực tràng. Thùy giữaphần trên của tuyến, có hình nêm, nằm giữa niệu đạo và các ống phóng tinh (đi chéo qua tiền liệt tuyến theo hướng dưới trước) và liên quan chặt chẽ với cổ bàng quang. Tăng kích thước thùy giữa (như trong BPH) gây ra chèn ép vào cổ bàng quang. Rất nhiều ống dẫn của tuyến tiền liệt mở vào thành sau của niệu đạo tiền liệt và góp phần chính trong lượng tinh dịch xuất ra. Cặp tuyến hành niệu đạo có hình hạt đậu được vùi vào cơ thắt niệu đạo, ở sau ngoài niệu đạo màng. Ống dẫn của mỗi tuyến đổ vào phần gần của niệu đạo xốp (niệu đạo dương vật) trong hành dương vật. Chất nhầy do cặp tuyến này tiết ra có tác dụng bôi trơn niệu đạo trong quá trình cương dương.

Niệu đạo nam được chia thành 4 phần. Niệu đạo trước tiền liệt là đoạn ngắn tiếp nối cổ bàng quang. Niệu đạo tiền liệt, là phần rộng nhất, đi qua tuyến tiền liệt, hơi gần với mặt trước của tuyến. Thành sau niệu đạo tiền liệt gồ lên tạo nên một hình thoi gọi là ụ tinh (seminal colliculus), trên đó có lỗ đổ vào của túi bầu dục tuyến tiền liệt (một di tích phôi thai) và cặp ống phóng tinh. Các rãnh ở mỗi bên của tinh gọi là các xoang tiền liệt, có lỗ đổ vào của các ống tuyến tiền liệt.

Phần thứ ba, niệu đạo màng, được vây quanh bởi cơ thắt niệu đạo hay cơ thắt niệu đạo ngoài (cơ hoạt động theo ý muốn). Phần thứ tư cũng là phần dài nhất, là niệu đạo xốp (niệu đạo dương vật), nó đi qua vật xốp dương vật và kết thúc ở lỗ niệu đạo ngoài trên đỉnh của quy đầu dương vật. Khi niệu đạo đi vào hành xốp dương vật, nó giãn rộng để tạo thành hố hành – nơi có lỗ đổ vào của cặp tuyến hành niệu đạo. Sau đó, niệu đạo giãn rộng thêm một lần nữa tại vị trí ngay gần lỗ niệu đạo ngoài tạo nên hố thuyền.

Tài liệu tham khảo:

Eugene C. Toy, MD

Vice Chair of Academic Affairs and Program Director Houston Methodist Hospital Obstetrics and Gynecology Residency Program Houston, Texas

Clinical Professor and Clerkship Director Department of Obstetrics and Gynecology University of Texas Medical School at Houston Houston, Texas

John S. Dunn Senior Academic Chair St. Joseph Medical Center Houston, Texas

Lawrence M. Ross, MD, PhD

Adjunct Professor Department of Neurobiology and Anatomy University of Texas Medical School at Houston, Texas

Han Zhang, MD

Associate Professor, Research Department of Neurobiology and Anatomy University of Texas Medical School at Houston, Texas

Cristo Papasakelariou, MD, FACOG

Clinical Professor, Department of Obstetrics and Gynecology University of Texas Medical Branch Galveston, Texas Clinical Director of Gynecologic Surgery St.Joseph Medical Center  Houston, Texas

Tham khảo bản dịch của nhóm “Chia sẻ ca lâm sàng”

Xem tất cả case lâm sàng tại:

https://ykhoa.org/category/khoa-hoc/ca-lam-sang/

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu nguyentrungtin7

Check Also

[Xét nghiệm 49] Glucose máu (Glucose, Glycémie Veineusse / Blood Sugar, Glucose in Whole Blood, Serum, Plasma, Fasting Plasma Glucose)

Advertisement Nhắc lại sinh lý Bình thường glucose máu xuất xứ từ 2 nguồn hoàn …