[Case lâm sàng 172] Viêm xoang (Sinusitis)

Advertisement

Một bé gái 10 tuổi được đưa tới gặp bạn vì đau đầu 2 tuần nay. Bệnh nhi đã được mẹ đưa tới bác sĩ chuyên khoa mắt, nhưng chưa phát hiện bất thường. Bệnh nhi kể rằng trước đây hoàn toàn khỏe mạnh và khoảng 1 tháng trước bệnh nhi nhận được một con mèo vào ngày sinh nhật. Khi thăm khám, thân nhiệt bình thường, màng nhĩ bình thường, họng sạch. Ấn đau vùng má phải và trên hốc mắt phải.

  • Chẩn đoán có khả năng nhất?
  • Áp dụng giải phẫu giải thích bệnh cảnh này?

LỜI GIẢI ĐÁP:

Viêm xoang (Sinusitis)

Tóm tắt: Một cô bé 10 tuổi mới nhận được một con mèo gần đây, xuất hiện đau đầu khoảng 2 tuần nay. Bệnh nhi không sốt, màng nhĩ và họng bình thường. Ấn đau vùng xương hàm trên và xương trán bên phải.

  • Chẩn đoán có khả năng nhất: viêm xoang hàm trên và xoang trán
  • Giải thích: tắc dẫn lưu của các xoang, thứ phát do phản ứng dị ứng của niêm mạc mũi

TƯƠNG QUAN LÂM SÀNG

Viêm xoang, một tình trạng thường gặp ở người Mỹ, là tình trạng viêm một hoặc nhiều hơn một trong số 6 nhóm xoang cạnh mũi, hầu hết trong số đó liên quan tới hốc mắt. Tình trạng viêm có thể gây ra bởi virus, dị ứng, hay vi khuẩn. Các xoang thường là các khoang vô trùng, được lót bởi một lớp niêm mạc có nhung mao giàu tế bào nhầy, và chất nhầy được đổ trực tiếp vào khoang mũi thông qua các lỗ nhỏ. Phù niêm mạc mũi có thể dễ dàng gây tắc các lỗ mở này và dẫn đến nhiễm trùng thứ phát. Xoang hàm trên là xoang thường bị ảnh hưởng nhất, và thường gặp là đau kiểu căng tức. Soi đèn qua xoang thấy có tình trạng mờ có thể giúp ích khi thăm khám. Chụp X-quang cũng có thể giúp ích; CLVT thường được chỉ định đối với các trường hợp phức tạp. Việc bệnh nhi mới nhận được một con mèo hướng tới một viêm xoang hàm trên và xoang trán do dị ứng hơn là do nhiễm trùng. Các thuốc đường uống hay đường xịt tại chỗ như thuốc chống sung huyết (decongestant/làm giảm nghẹt mũi), kháng histamin, và/hoặc các steroid thường mang lại hiệu quả. Kháng sinh không được chỉ định tại thời điểm này, nhưng bệnh nhân cẩn phải được hướng dẫn theo dõi sốt hoặc đau tăng. Các biến chứng bao gồm viêm xương tủy (osteomyelitis), viêm mô tế bào vùng ổ mắt (ocular cellulitis), và viêm tắc tĩnh mạch xoang hang (cavernous sinus thrombophlebitis).

TIẾP CẬN:

Các xoang

MỤC TIÊU

  • Mô tả được vị trí của các xoang cạnh mũi trong các xương mặt
  • Liệt kê được các lỗ mở vào hốc mũi của các xoang cạnh mũi

ĐINH NGHĨA

VIÊM XƯƠNG TỦY (OSTEOMYELITIS): tình trạng nhiễm trùng xương và tủy xương

VIÊM TĨNH MẠCH HUYẾT KHỐI (THROMBOPHLEBITIS): là phản ứng viêm của tĩnh mạch trước một cục huyết khối hình thành trong lòng tĩnh mạch

BÀN LUẬN

Các xoang cạnh mũiphần kéo dài của khoang mũi vào trong các xương sọđược đặt tên theo tên xương chứa xoang đó (Hình 48-1). Những khoang này được lót bởi niêm mạc đường hô hấp, giúp làm giảm trọng lượng hộp sọ, và có khả năng còn hỗ trợ cho quá trình làm ẩm không khí hít vào. Xem Case 51 để biết thêm về giải phẫu khoang mũi. Xoang bướm nằm trong xương bướm với kích thước và số lượng thay đổi, mở vào ổ mũi ở ngách bướm sàng. Xoang sàng gồm một chuỗi các xoang nằm ở giữa thành trong ổ mắt và khoang mũi (ngang mức gốc mũi). Với mục đích mô tả, chúng được chia thành các xoang sàng trước, giữa và sau, và mỗi nhóm có lỗ mở vào ổ mũi riêng. Các xoang sàng sau mở

Advertisement
vào ngách mũi trên. Các xoang sàng giữa đẩy xương sàng nhô lên trong ngách mũi giữa tạo nên bọt sàng (ethmoid bulla), và trên bề mặt bọt sàng là các lỗ mở các các xoang này. Ở dưới bọt sàng là một khe, gọi là khe bán nguyệt. Các xoang sàng trước mở vào phần trước của khe bán nguyệt, được gọi là phễu (infundibulum).

Các xoang lớn nhất là xoang hàm trên và xoang trán, và các lỗ mở tương đối lớn của chúng cũng đổ vào ngách mũi giữa. Xoang hàm trên với kích thước lớn nằm trong xương hàm trên. Trần của xoang (cũng chính là sàn ổ mắt) rất mỏng và có nguy cơ bị tổn thương trong các chấn thương trực tiếp vào ổ mắt, do tăng áp lực một cách đột ngột. Những chấn thương như vậy có thể gây ra gãy “thổi bay – blowout” sàn ổ mắt. Lỗ mở của xoang hàm trên được tìm thấy trong khe bán nguyệt. Xoang trán được tìm thấy trong xương trán ở giữa bản xương ngoài và bản xương trong và góp phần tạo nên trần hốc mắt. Nó được dẫn lưu bởi ống trán mũi (frontonasal duct), để đổ vào phễu – phần trước của khe bán nguyệt.

Tài liệu tham khảo:

Eugene C. Toy, MD

Vice Chair of Academic Affairs and Program Director Houston Methodist Hospital Obstetrics and Gynecology Residency Program Houston, Texas

Clinical Professor and Clerkship Director Department of Obstetrics and Gynecology University of Texas Medical School at Houston Houston, Texas

John S. Dunn Senior Academic Chair St. Joseph Medical Center Houston, Texas

Lawrence M. Ross, MD, PhD

Adjunct Professor Department of Neurobiology and Anatomy University of Texas Medical School at Houston, Texas

Han Zhang, MD

Associate Professor, Research Department of Neurobiology and Anatomy University of Texas Medical School at Houston, Texas

Cristo Papasakelariou, MD, FACOG

Clinical Professor, Department of Obstetrics and Gynecology University of Texas Medical Branch Galveston, Texas Clinical Director of Gynecologic Surgery St.Joseph Medical Center  Houston, Texas

Tham khảo bản dịch của nhóm “Chia sẻ ca lâm sàng”

Xem tất cả case lâm sàng tại:

https://ykhoa.org/category/khoa-hoc/ca-lam-sang/

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu nguyentrungtin7

Check Also

[ Bệnh học tim mạch 15 ]- Hẹp van động mạch chủ (hẹp chủ)

Advertisement Định nghĩa hẹp van động mạch chủ Thuật ngữ hẹp van động mạch chủ …