[Sổ tay Harrison Số 35] Mệt mỏi toàn thân

Mệt mỏi là một trong những triệu chứng thường gặp nhất của BN. Nó thường là cảm giác giảm sinh lực mơ hồ, hoặc cảm giác gần như kiệt sức chỉ sau một gắng sức nhỏ. Phân biệt với yếu mệt do nguyên thần kinh, là giảm sức cơ của một hoặc nhiều cơ (Chương 59). Điều này thường ít gặp ở BN, đặc biệt là ở người già, thường có biểu hiện mệt mỏi toàn thân tiến triển, điều này có thể bao gồm các yếu tố của triệu chứng mệt mỏi và yếu mệt, tuỳ theo nguyên .

1. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Vì có nhiều nguyên gây ra mệt mỏi, nên việc hỏi sử kĩ lưỡng, hỏi lược qua các cơ quan, và khám lâm sàng rất quan trọng để thu hẹp và tập trung vào các nguyên phù hợp. Phần sử và lược qua các cơ quan nên tập trung vào thời gian khởi phát và diễn tiến của triệu chứng mệt mỏi.                                                                                                                                                                                  Tình trạng đã kéo dài nhiều tuần, nhiều ngày hay nhiều tháng? Xem xét các hoạt động sống, tập luyện hằng ngày, thói quen ăn uống/cảm giác ngon miệng, sinh hoạt tình dục và thói quen ngủ. Tìm các biểu hiiện của trầm cảm hoặc sa sút trí tuệ. Hỏi lại tiền sử đi du lịch và tình trạng có thể phơi nhiễm với các tác lây nhiễm, cùng với danh sách sử dụng. Phần lược qua các cơ quan có thể gợi ý các manh mối quan trọng liên quan đến hệ cơ quan. Tiền sử có thể giải thích các dấu hiệu trước đó dẫn đến biểu hiện hiện tại, như các ác tính trước đó hoặc các vấn đề tim mạch. Khám lâm sàng đặc biệt nên đánh giá cân nặng và tình trạng dinh dưỡng, hạch bạch huyết, gan- to, các khối u ở bụng, vẻ xanh xao, phát ban, suy tim, các âm thổi mới xuất hiện, đau hoặc các điểm đau, và dấu hiệu của yếu mệt hoặc các bất thường về thần kinh. Phát hiện tình trạng yếu mệt hoặc liệt thật sự gợi ý đến các thần kinh (Chương 59).

2. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

Xác định được nguyên gây ra mệt mỏi có thể là một trong những thách thức trong chẩn đoán của vì chẩn đoán phân biệt rất nhiều, bao gồm , ác tính, tim, nội tiết, lý thần kinh, suy nhược, hoặc các bất thường nghiêm trọng ở bất
cứ hệ cơ quan nào, cũng như những tác dụng phụ do (Bảng 35-1).
Các triệu chứng sốt và sụt cân giúp định hướng các nguyên do , trong khi các triệu chứng của khó thở tăng dần hướng đến các nguyên tim mạch, phổi, hoặc . Đau gợi ý khả năng thấp . Một lý ác tính trước đó đã được chữa khỏi hoặc đang thuyên giảm, có thể tái phát hoặc di căn xa. Tiền sử hoặc cơ tim có thể xác định tình trạng mất bù. Điều trị Grave có thể dẫn đến . Theo dõi quá trình thay đổi điều trị, dù là ngưng sử dụng hay mới bắt đầu. Hầu như thay đổi loại mới nào cũng có khả năng gây nên mệt mỏi. Tuy nhiên, mối liên hệ theo thời gian đối với loại mới không loại trừ được các nguyên khác, khi nhiều BN sử dụng mới để giải quyết những than phiền của họ. Xem xét cẩn các loại
và liều dùng, đặc biệt là ở BN ; việc sử dụng nhiều loại , không phù hợp hoặc sai liều là nguyên thường gặp gây ra
mệt mỏi. Diễn tiến triệu chứng theo thời gian rất quan trọng. Biểu hiện triệu chứng qua nhiều tháng đến nhiều năm nhiều khả năng liên quan đến suy cơ quan tiến triển chậm hoặc lý ở hệ nội tiết, trong khi triệu chứng diễn tiến nhanh qua nhiều tuần đến nhiều tháng gợi ý hoặc ác tính.

3. CẬN LÂM SÀNG

Chỉ định xét nghiệm và hình ảnh học dựa vào sử và khám thực thể. Tuy nhiên, công thức bạch cầu, đồ, BUN, creatinine, đường huyết, calci, và chức năng gan hữu dụng cho đa số BN mệt mỏi không phân biệt được, vì những xét nghiệm này loại trừ được nhiều nguyên và cung cấp những dữ kiện cho các không nghĩ tới. Tương tự, chụp X quang ngực có ích trong việc đánh giá nhiều lý một cách nhanh chóng, gồm suy tim, lý phổi, hoặc lý ác tính tiềm ẩn trong phổi hoặc xương. Các xét nghiệm tiếp theo nên dựa vào các kết quả ban đầu và đánh giá lâm sàng của các chẩn đoán phân biệt phù hợp. Ví dụ, phát hiện thiếu máu hướng đến việc đánh giá có hay không các đặc trưng của hoặc tán huyết, do đó làm thu hẹp lại các nguyên nhân có thể. có thể do tiết ADH không thích hợp (SIADH), , suy thượng , do hoặc do các tim mạch, gan, và tiềm ẩn. Bạch cầu tăng làm tăng khả năng hoặc ác tính. Vì vậy, cách tiếp cận nói chung là thu thập thông tin có giá trị theo một thứ tự để dần dần thu hẹp các chẩn đoán phân biệt

Advertisement

4. MỆT MỎI MẠN TÍNH

mệt mỏi kinh niên (Chronic Fatigue Syndrome – CFS) đặc trưng bởi tình trạng mệt mỏi và các than phiền liên quan đến thể chất
và tâm thần kinh. Phần lớn BN (~75%) là nữ, thường 30– 45 tuổi. CDC đã đặt ra tiêu chuẩn chẩn đoán cho CFS dựa vào các triệu chứng và
sau khi đã loại trừ được các khác (Bảng 35-2). Nguyên nhân chưa được biết rõ, mặc dù các biểu hiệu lâm sàng thường xuất hiện sau
một (sốt Q, Lyme, bạch cầu đơn nhân hoặc các nhiễm virus). Nhiều đã cố gắng liên hệ CFS với nhiễm EBV, một retrovirus (gồm virus gây ra bạch cầu), hoặc một enterovirus; nhưng không thành công. Stress cơ thể hoặc tâm lý thường được nhận định vội vàng như là một yếu tố. Suy nhược hiện diện ở một nửa đến 2/3 BN, và một số chuyên gia tin rằng CFS là cơ sở của một tâm thần.
CFS vẫ là chẩn đoán loại trừ, và không có xét nghiệm CLS có thể xác lập được chẩn đoán hoặc đo lường độ nặng của nó. CFS thường không tiến triển nhưng có đặc tính là diễn tiến kéo dài. Tỷ lệ hồi phục trung bình hằng năm là 5% (khoảng, 0–31%) với tỷ lệ cải thiện là 39% (khoảng, 8– 63%).
Điều trị CFS khởi đầu bằng sự nhận biết của bác sĩ dựa vào sự suy giảm các chức năng hằng ngày của BN. Thông tin cho bệnh nhân những hiểu biết hiện tại về CFS (hoặc điều chưa biết) và đưa ra các lời khuyên nói chung về cách điều trị bệnh. NSAIDs làm giảm nhức đầu, giảm đau, và hạ sốt. kháng histamine hoặc trị nghẹt mũi có ích cho các triệu chứng của viêm mũi hoặc viêm xoang. Mặc dù BN có thể chối bỏ các chẩn đoán về tâm thần, các đặc trưng của trầm cảm và lo âu có thể ủng hộ cho việc điều trị. Các kháng trầm cảm không gây buồn

ngủ giúp cải thiện tâm trạng và giấc ngủ và có thể làm giảm mệt mỏi. Liệu pháp nhận thức (CBT) và liệu pháp tập thể dục tăng dần (GET) được cho là những chiến lược điều trị hiệu quả ở một số BN.

Nguồn: Harrison Manual of Medicine 18th

Tham khảo bản dịch của nhóm ” chia ca lâm sàng”

Advertisement

Giới thiệu tranphuong

Avatar

Like page Y lâm sàng để cập nhật những thông tin và bài viết mới nhất!

Check Also

[Sinh lý Guyton số 77] Chuyển hóa hormon tuyến giáp

Tuyến giáp nằm ngay dưới thanh quản và trước khí quản, là tuyến nội tiết …