[Vi sinh lâm sàng 29] Nấm

Advertisement

Vì “đang trở thành” một bác sỹ trong một thế giới hiện đại của AIDS, cấy ghép cơ quan và hóa trị liệu hiện đại, bạn sẽ phải điều trị cho một lượng chưa từng có những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Với việc giảm thấp lượng tế bào miễn dịch qua trung gian, thì có sự gia tăng đáng kể tỷ lệ các loại bệnh về nấm! Bạn sẽ hay bắt gặp những loại nấm mà bình thường rất hiếm gặp. Nấm là những tế bào nhân thực không có diệp lục tố, vì thế chúng không thể tạo ra năng lượng thông qua quá trình quang hợp. Chúng cần một môi trường hiếu khí. Sau khi thảo luận về
các thuật ngữ quan trọng sau đây, chúng ta sẽ thảo luận về các loại nấm gây bệnh cho người.
Nấm men (yeast): là dạng sinh trưởng đơn bào của nấm. Những tế bào này có thể xuất hiện dưới dạng hình cầu cho đến hình bầu dục. Nấm men sinh sản bằng cách mọc chồi (bud). Khi chồi không được tách rời ra, thì chúng có thể hình thành các tế bào nấm men dưới dạng chuỗi kéo dài, khi đó chúng được gọi là giả sợi nấm (pseudohyphae).

Tốc độ sinh sản của nấm men chậm hơn so với vi khuẩn
Sợi nấm (hyphae): có dạng giống như sợi chỉ, phân nhánh, hình ống trụ gồm những tế bào nấm gắn kết lại với nhau. Chúng phát triển bằng cách mở rộng dọc theo chiều dài từ các đầu ống. Mốc (mold), hay còn được gọi là khuẩn ty thể (mycelium): Là sợi nấm phân nhánh đan xen với nhau thành cụm tạo ra các thể đa bào. Nấm mốc phát triển bằng cách phân chia dọc theo sợi nấm và tạo ra các bào tử (spore).
Bào tử: là các thể được sinh ra từ nấm mốc. Bào tử hiếm khi được nhìn thấy từ test cạo da.
Nấm lưỡng hình (dimorphic fungi): Loại nấm này có thể phát triển như là dạng nấm men hoặc nấm mốc, điều này phụ thuộc vào các điều kiện môi trường và nhiệt độ (thường phát triển ở dạng nấm men khi ở nhiệt độ của cơ thể người).
Nấm hoại sinh: Loại nấm này sống và sử dụng các chất hữu cơ (đất, thực vật mục rữa) như là một nguồn năng lượng.
HÌNH THÁI CỦA NẤM
Một số đặc điểm chính về hình thái học của nấm chính là các yếu tố độc lực cũng như là mục tiêu của các thuốc kháng sinh chống nấm. Màng tế bào: Màng tế bào kép là lớp nằm bên trong nhất, chúng bao xung quanh tế bào chất của nấm. Nó chứa cấu trúc sterol (sterol còn được tìm thấy ở các lớp màng tế bào của người cũng như là của vi khuẩn Mycoplasma). Ergosterol là loại sterol chủ yếu ở nấm, trong khi cholesterol là loại sterol chủ yếu ở người. Hầu hết các loại thuốc chống nấm tác dụng bằng cách làm phá vỡ ergosterol, hoặc bằng cách liên kết với nó và đục các lỗ ở vách tế bào của nấm (amphotericin B nystatin), hoặc bằng cách làm cản trở quá trình tổng hợp ergosterol (nhóm azole echinocandin).
Vách tế bào: Bao xung quanh màng tế bào đó là vách tế bào, chủ yếu bao gồm đó là carbohydrate và một vài protein. Vách tế bào của nấm là các kháng nguyên mạnh đối với hệ miễn dịch của con người.
Vỏ capsule: Đây là một lớp vỏ polysaccharid bao xung quanh vách tế bào. Đây là một loại yếu tố độc lực chống sự thực bào (antiphagocytic virulence factor) được sử dụng bởi Cryptococcus neoformans. Lớp vỏ capsule có thể được nhìn thấy bằng mực nhuộm Ấn Độ.
21.1. Nó giúp cho việc cấu thành các bệnh lý nhiễm nấm ở người theo chiều sâu của da mà chúng
lây nhiễm.

NHIỄM NẤM NGOẠI BIÊN
Lang ben (pityriasis versicolor) và nhiễm nấm da sắc tố đen (tinea nigra) là những bệnh lý nhiễm nấm nằm ở bề mặt ngoại biên (superficial infection), biểu hiện chủ yếu đó là sự thay đổi màu sắc da. Cả hai đều được đặt tên theo những biểu hiện da tương ứng mà chúng gây ra: Lang ben (nấm da đa sắc)
Nấm da thương tổn
sắc tố đen
1) Lang ben (còn được gọi là nấm da đa sắc) là một loại bệnh lý nhiễm nấm ở bề mặt ngoại biên mạn tính làm cho các mảng ở da tăng sắc tố hoặc giảm sắc tố. Khi phơi da ngoài ánh sáng mặt trời thì vùng da xung quanh các mảng này sẽ sạm lại, nhưng các mảng này vẫn có màu trắng. Loại nhiễm nấm này được gây ra bởi Malassezia furfur.
2.
Nấm da thương tổn sắc tố đen là một loại nhiễm nấm bề mặt ngoại biên gây ra các mảng sắc tố có màu nâu đen cho đến màu đen ở lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân. Loại nhiễm nấm này được gây ra bởi Exophiala werneckii.
Chẩn đoán các loại nhiễm nấm đều dựa vào việc soi các vết cạo da dưới kính hiển vi, và cho thêm kali hydroxid (KOH) vào bản kính. Điều này sẽ làm hiện diện sợi nấm và nấm men dạng hình cầu, vì KOH làm tiêu đi các mảnh vụn mà không phải là nấm.
Malassezia có thể trông giống sợi mỳ ống (sợi nấm) cùng với thịt viên (nấm men dạng hình cầu)
Việc điều trị các loại nhiễm nấm này bao gồm việc sử dụng loại sữa tắm hay dầu gội có chứa hoạt chất selenium sulfide. Đây là một cách điều trị ít tốn kém mà lại có hiệu quả. Ngoài ra còn có thể sử dụng nhóm imidazole kháng nấm bôi tại chỗ
CÁC LOẠI NHIỄM NẤM Ở DA, LÔNG TÓC VÀ MÓNG
Nấm Da Do Nấm Sợi (Dermatophytosis)
Bệnh nấm da do nấm sợi là các loại nhiễm nấm ở da được gây ra bởi hơn 30 chủng của nấm sợi. Nấm sợi sống ở lớp da chết, lớp sừng của da, lông tóc và móng (lớp của da được trình bày ở Mục 21.1). Những loại nấm này tiết ra một loại enzym được gọi là keratinase làm tiêu biến chất keratin. Vì keratin là cấu trúc protein chủ yếu của da, lông tóc, móng nên sự tiêu biến của keratin được biểu hiện như là bong vẩy da, rụng tóc, nứt nẻ móng.
Các loại nấm sợi thông thường gồm
Microsporum, Trichophyton Epidermophyton.
1.
Nấm da toàn thân (tinea corporis): Sau khi xâm nhập vào lớp sừng của da, nấm lan rộng ra xung quanh, tạo nên đường viền ranh giới có dạng vòng tròn màu đỏ. Sự gia tăng đường viền đỏ cho thấy diện tích hoạt động của quá trình viêm cùng với quá trình tự lành ở trung tâm. Điều này còn được gọi là lác vòng nhẫn (ringworm), vì nó có dạng trông giống như vòng nhẫn nổi bên dưới bề mặt da.
2.
Nấm bẹn (tinea cruris): Bệnh nhân nổi các mảng ngứa ở bẹn và bìu.
3.
Nấm bàn chân (tinea pedis), hay còn gọi là bệnh bàn chân lực sĩ (athlete’s foot): Chúng thường bắt đầu ở các kẽ ngón chân, và gây ra nứt hoặc lột da ở những nơi đó. Loại nhiễm nấm này cần có môi trường ẩm và ấm, vì thế nó chỉ xảy ra ở những người mang giầy thường xuyên.
4.
Nấm da đầu (tinea capitis): Tình trạng này chủ yếu xảy ra ở trẻ em khi mà nấm phát triển ở tóc và da đầu, dẫn đến các tổn thương đỏ dạng vẩy kèm theo rụng tóc. Loại nhiễm nấm này xuất hiện như là một vòng nhẫn đang lan tỏa.
5. Nấm móng tay (tinea unguium), hay còn gọi là onychomycosis: Các móng tay dày lên, biến đổi màu sắc và dễ nứt gãy.
Để chẩn đoán một bệnh nấm da:
1) Hòa tan mẫu vụn da vào kali hydroxid (KOH). KOH sẽ tiêu hủy keratin. Quan sát dưới
kính hiển vi sẽ thấy sợi nấm phân nhánh.
2) Kiểm tra trực tiếp lông tóc hoặc da bằng
đèn Wood (đèn tia cực tím có bước sóng 365 nm).
Một số chủng
Mycrosporum sẽ phát ra ánh sáng xanh rực rỡ.
Dòng thuốc đầu tiên trong điều trị nấm da đó là imidazole dạng bôi. Nên giữ da luôn khô
thoáng bằng tác dụng luồng không khí (tính ra ảnh khỏa thân cũng có lợi thế của riêng nó!!!). Các
loại nhiễm trùng do sợi nấm có ảnh hưởng đến da và móng có thể được điều trị với các loại thuốc
uống như là terbinafine và nhóm azole (trong đó chủ yếu là fluconazole và itraconazole).
Candida albicans
Loại cuối cùng trong các loại nhiễm nấm ở da được gây ra bởi Candida albicans. Candida có thể lây nhiễm lên miệng (nấm miệng), bẹn (chứng hăm do tã) và âm đạo (viêm âm đạo do Candida). Ngoài ra nó còn gây ra nhiễm trùng cơ hội. Các loại nhiễm nấm này sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong chương này (trang xxx).
NHIỄM NẤM DƯỚI DA
Các loại nhiễm nấm dưới da xâm nhập vào cơ thể sau khi bị thương tổn trước đó ở da. Chúng
thường xuyên tìm đến cư trú ở mô dưới da hoặc lan tỏa theo hệ bạch huyết để đến các hạch bạch
huyết. Đây là những loại nấm cư trú bình thường trong đất và có độc lực thấp.
Sporothrix schenckii (Sporotrichosis)
21.2. ‘Spore tricks”. Sporothrix schenckii là một loại nấm lưỡng hình thường được tìm thấy trong đất cát và
trên cây (gai hoa hồng và mùn cưa). Bệnh nấm Sporotrichosis là một nguy cơ nghề nghiệp cho những người làm vườn.


Sau khi bị đâm bởi cây gai có chứa
Sporothrix schenckii thì hạch dưới da
dần dần xuất hiện. Hạch này sau đó trở nên lở loét và hoại tử. Khi hạch này lành lại thì các hạch mới gần kề đó lại nổi lên và dọc theo đường bạch huyết trên cánh tay.

Kiểm tra bằng kính hiển vi có thể thấy các tế bào nấm men, chúng sinh trưởng bằng cách mọc chồi. Nuôi cấy ở 37oC ta có thể thấy chúng ở dạng nấm men, trong khi nuôi cấy ở 25oC thì lại thấy dạng sợi nấm đang phân nhánh (lưỡng hình thể). Điều trị bằng itraconazole, fluconazole hoặc potassium iodide dạng uống. “If you are going to POT rose, you might buy some potassium iodide!”.
Phialophora và Cladosporium (Chromoblastomycosis)
21.3. Hãy hình dung một tên nấm được mạ crôm (chromo) đang cho nổ tung các mụn cơm dạng bông cải (cauliflower warts) trên da để giúp ta nhớ về bệnh nấm Chromoblastomycosis. Nó là một loại nhiễm trùng dưới da được gây ra bởi các thực vật hoại sinh đa dạng có màu mạ đồng (Phialophora Cladosporium) được tìm thấy trong thân cây đang mục nát. Nhiễm trùng xảy ra sau khi bị đâm bởi mảnh gỗ. Ban đầu, tiến triển một tổn thương màu tím có dạng như mụn cơm, kích thước nhỏ. Qua vài tháng cho tới vài năm, gia tăng thêm các tổn thương màu tím có dạng như mụn cơm ở gần kề. Đám thương tổn này có dạng như là bông cải. Khi trộn các mảnh vụn da với KOH có thể thấy các thể xơ cứng có màu mạ đồng (hay còn gọi là thể Medlar). Điều trị với itraconazole và cắt lọc tại chỗ (local excision).

NHIỄM NẤM TOÀN THÂN
Ba loại nấm gây ra bệnh lý toàn thân ở người đó là Histoplasma capsulatum, Blastomyces dermatitidis Coccidioides immitis. Cả 3 đều thuộc loại nấm lưỡng hình. Chúng phát triển như là các thể nấm mốc, với các bào tử, ở nhiệt độ 25oC trên thạch Sabouraud. Trên thạch máu với nhiệt độ 37oC, chúng phát triển ở dạng nấm men. Trong môi trường cư trú tự nhiên của chúng (đất cát) chúng phát triển như dạng nấm mốc và giải phóng các bào tử vào không khí. Những bào tử này được hít phải bởi con người và ở “nhiệt độ cơ thể người” 37oC, lúc đó chúng phát triển như là các tế bào nấm men.
Địa Lý
21.4. Histoplasma Blastomyces là những loại nấm đặc hữu ở những lưu vực rộng lớn sông Mississippi. Hãy hình dung một “phi công nấm” đang bắn ra một quả tên lửa để “HIT” và “BLAST” tạo ra một hố bom trên sông Mississippi.

21.5. Coccidioides là loại nấm đặc hữu ở vùng tây nam nước Mỹ (Arizona, New Mexico, phía nam California)
và phía bắc Mexico. Hãy hình dung Mr. Nấm đang lẫy cò (“
COCK”) cây súng lục ở vùng TÂY-NAM lâu
đời. Sự hiểu biết về vùng địa lý rất quang trọng trên lâm sàng. Ví dụ,
Coccidioides đã trở thành loại nhiễm trùng
cơ hội phổ biến đứng thứ 2 ở bệnh nhân ADIS cư trú tại Arizona.

Cơ Chế Của Bệnh Lý
Cả 3 loại nấm đều có cơ chế gây bệnh tương tự nhau. Chú ý mặt tương đồng với bệnh lao. Giống như Mycobacterium tuberculosis, cả 3 loại nấm đều xâm nhập do việc hít phải chúng. Tuy nhiên, không giống như Mycobacterium tuberculosis, các loại nhiễm nấm này được hít phải dưới dạng bào tử và không bao giờ lây truyền từ người sang người. Thay vào đó, các bào tử từ đất, phân chim hoặc cây cối trôi nổi vào không khí. Giống như Mycobacterium tuberculosis, một khi được hít vào, lây nhiễm khu trú ở phổi rồi sau đó lan tỏa vào dòng máu. Hầu hết những người bị lây nhiễm thì nấm sẽ bị phá hủy tại thời điểm này do hệ thống miễn dịch trung gian qua tế bào. Các chế phẩm kháng nguyên được gọi là coccidioidin histoplasmin tương tự như PPD của Mycobacterium tuberculosis: khi tiêm trong da ở những người đã bị phơi nhiễm trước đó thì chúng sẽ gây phản ứng quá mẫn type quá mẫn muộn, làm cho sưng phù khu trú trong vòng 24 – 48 tiếng.
3 loại nấm gây ra 3 loại biểu hiện:
1)
Không triệu chứng: Phần lớn các trường hợp đã được báo cáo là bệnh lý nhẹ ở đường hô hấp hoặc không có triệu chứng.
2)
Viêm phổi: Bệnh nhân có thể tiến triển một cơn viêm phổi nhẹ cùng với sốt, ho và hình ảnh thâm nhiễm phổi phim X-Quang. Giống như bệnh lao, các u hạt có thể vôi hóa sau khi đã giải quyết tình trạng viêm phổi. Một phần nhỏ bệnh nhân tiến triển cơn viêm phổi nghiêm trọng, và thận chí một nhóm nhỏ hơn sẽ tiến triển viêm phổi hang mạn tính, được chỉ điểm bởi sụt cân, đổ mồ hôi trộm, sốt nhẹ, giống như một bệnh lao phổi mạn tính.
3)
Toàn phát: Hiếm khi nấm xâm nhiễm vào dòng máu để có thể gây ra các bệnh lý toàn phát cấp tính, như là viêm màng não, các u hạt tiêu xương, các u hạt ở da (sau đó vỡ ra tạo thành các vết loét) và các tổn thương khác ở cơ quan. Dạng toàn phát này thường hay xảy ra ở những người bị suy giảm khả năng miễn dịch.
Chẩn đoán tốt nhất cho cả 3 loại này bằng cách sinh thiết ở mô bị ảnh hưởng: sinh thiết các tổn thương ở phổi qua nội soi phế quản, sinh thiết da…Mô có thể được kiểm tra bằng nhuộm bạc trong nhiễm nấm men hoặc có thể nuôi cấy trong thạch Sabouraud hoặc thạch máu. “
The tissue is the issue!!!!”. Test da không giúp ích được nhiều cho việc chẩn đoán, do có rất nhiều người đã bị phơi nhiễm trước đó mà không hề có triệu chứng và kiểu gì cũng sẽ có test dương tính. Xét nghiệm huyết thanh học có thể giúp ích (cố định bổ thể, ngưng kết latex). Xét nghiệm nước tiểu
để tìm kháng nguyên histoplasma cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho việc chẩn đoán.

Viêm phổi cấp do nhiễm histoplasma và do nhiễm coccidioidomycosis thường không cần phải điều trị do sự nhiễm trùng này thường nhẹ. Trong bệnh lý toàn phát hoặc mạn tính, itraconazole hoặc amphotericin B thường cần phải được sử dụng trong vài tháng! Tất cả các loại nhiễm trùng do Blastomyces cần phải điều trị tấn công bằng amphotericin B hoặc itraconazole.
Tóm tắt về Histoplasma, Blastomyces Coccidioides
GIỐNG NHƯ BỆNH LAO
Được hít vào, nhiễm trùng chủ yếu ở phổi Không triệu chứng, nhẹ, nghiêm trọng, hoặc nhiễm trùng phổi mạn tính
U hạt ở phổi, vôi hóa, và/hoặc hang phổi
Có thể lan tỏa vào dòng máu để đi đến những nơi khác Test da giống như PPD.
KHÔNG GIỐNG NHƯ BỆNH LAO
Không lây truyền từ người sang người Nấm là những bào tử,
KHÔNG PHẢI là vi khuẩn kháng acid
21.6. Để ghi nhớ rằng Coccidioides, Blastomyces Histoplasma đều được hít phải dưới dạng các bào tử và gây ra các bệnh lý ở phổi, da, xương và màng não hãy ngẫm nghĩ về chàng Cao Bồi Nấm. Anh ta lắp những viên đạn bào tử (spore), lẫy cò (cock) cây súng lục và sau đó nổ súng (blast) và bắn (hit) vào phổi, da, xương và màng não.

 

Histoplasma capsulatum:
Không có lớp vỏ bao (
Nonencapsulate) ngoài như là tên gọi của nó. Tìm thấy ở trong phân chim và dơi, vì thế các đợt bùng phát cơn viêm phổi xảy ra khi đang dọn dẹp chuồng gà hoặc khám phá hang động.
Blastomyces dermatitidis:
Loại nấm này được tìm thấy trong đất và gỗ mục. Nhiễm nấm toàn phát do loại nấm này gây ra là loại hiếm gặp nhất. Khi nhiễm trùng xảy ra, hiếm khi ở mức không triệu chứng hay nhẹ. Hầu hết các trường hợp biểu hiện ở dạng bệnh lý toàn phát mạn tính kèm theo đổ mồ hôi trộm, sụt cân, có các triệu chứng ở phổi, loét da. Nhiễm nấm Blastomyces là điều hiếm gặp nhất mà đã gặp thì phải nặng nhất!
The b
LAST to get,
No
BLAST to have!!!
Coccidioides immitis:
Thường gây ra viêm phổi thể nhẹ ở người bình thường sống ở miền tây nam nước Mỹ. Thường gây ra nhiễm trùng cơ hội ở những bệnh nhân AIDS đến từ khu vực đó.

Cryptococcus neoformans Cryptococcus gattii (Cryptococcosis)
Có hơn 30 chủng loại Cryptococcus nhưng đến nay chỉ có hai loại được biết đến là gây bệnh cho con người, Cryptococcus neoformans Cryptococcus gattii. Mặc dù hai loại này đặc hữu cho vùng Papua New Guinea và miền bắc nước Úc nhưng Cryptococcus gattii lại báo cáo lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1999 ở vùng Tây – Bắc Thái Bình Dương. Có hơn 100 trường hợp được xác nhận là mắc C. gattii ở Mỹ vào giữa những năm 2004 và 2011. Cryptococcus neoformans là loại khá phổ biến và là chủng thường gây ra các nhiễm trùng cho con người. Cryptococcus là một loại nấm men có vỏ bọc bao bên ngoài (không phải dạng lưỡng hình), tương tự như 3 loại nấm đã đề cập trước đó thì chúng cũng được hít vào bên trong phổi và thường gây ra các nhiễm trùng ở thể
không triệu chứng. Khác biệt ở chỗ đó là các biểu hiện chính không phải do viêm phổi mà là do viêm não – màng não. Loại nấm này được tìm thấy trong tự nhiên, nhất là trong phân chim bồ câu. Sau khi hít phải và gây ra nhiễm trùng khu trú ở phổi, thường là ở thể không triệu chứng, thì nấm men lan tỏa vào trong dòng máu để đi đến não. Hầu hết các trường hợp (3/4) xảy ra ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Trong thực tế, có khoảng 10% bệnh nhân AIDS tiến triển bệnh lý do nhiễm cryptococcus.
Trong bệnh lý nhiễm nấm cryptococcus tiến triển cơn viêm màng não bán cấp cho đến cấp kèm theo đau đầu, buồn nôn, lú lẫn, bước đi không vững và/hoặc có các triệu chứng của dây thần kinh sọ. Sốt và viêm màng não có thể ở thể nhẹ. Viêm màng não do nhiễm cryptococcus sẽ gây tử vong nếu không được điều trị, bởi vì phù não sẽ tiến triển nhanh chóng và gây đè ép lên thân não.

Advertisement
Cryptococcus còn có thể gây viêm phổi, loét da và các tổn thương ở xương giống như nhiễm nấm toàn phát khác.
Mấu chốt để chẩn đoán đó là thực hiện chọc dò tủy sống và phân tích dịch não tủy. Nhuộm mực Ấn Độ có thể thấy các tế bào nấm men cùng với quầng sáng bao xung quanh, đó là lớp vỏ capsule polysaccharide. Có một xét nghiệm nhạy cảm hơn đó là xét nghiệm kháng nguyên

1) Nấm miệng: Các mảng màu trắng kem nổi trên nền hồng ban bao phủ trên các lớp màng niêm mạc miệng. Các lớp này rất khó cạo bỏ bằng que đè lưỡi. Nystatin hoặc amphotericin B dạng nhỏ miệng và súc miệng, hoặc ngậm imidazole dạng viên kẹo sẽ giúp ngăn ngừa được sự nhiễm trùng này.

21.7. AIDS vàCryptococcosis.
Việc điều trị viêm màng não do cryptococcus ở những bệnh nhân AIDS thường bằng amphotericin B và flucytosine trong 2 tuần đầu, tiếp theo sau đó là bằng fluconazole kéo dài trong 8 tuần, rồi sử dụng liệu pháp liều thấp kéo dài cho đến khi số lượng CD4 tăng trên 100. Còn với bệnh lý không phải viêm màng não ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch có thể điều trị đơn độc bằng fluconazole đường uống kéo dài.

Candida albicans (Candidiasis)
Là một người thầy thuốc nên bạn sẽ nhìn thấy loại nấm men này ở khắp mọi nơi. Nó được ban tặng giống như là ban kẹo (
CANDY) cho nhân loại: phụ nữ trong viêm âm đạo, trẻ em trong hăm do tã, bệnh nhân AIDS, và danh sách vẫn còn kéo dài. Ở người bình thường, Candida albicans gây ra 3 loại nhiễm trùng đều ở da. Ở bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, nó có thể gây ra 3 loại nhiễm trùng bất kỳ ở da, cũng như là bệnh lý xâm lấn hệ thống.
Ở Người Bình Thường

2) Viêm âm đạo: Có hơn 20 triệu trường hợp nhiễm loại “nấm men” này mỗi năm chỉ tính riêng ở Mỹ! Phụ nữ tiến triển viêm âm đạo do Candida thường xuyên hơn khi đang sử dụng các loại thuốc kháng sinh, thuốc tránh thai đường uống, hoặc trong thời kỳ kinh nguyệt và mang thai.
Các triệu chứng gồm ngứa và tiết dịch âm đạo (dịch tiết dày làm thấm ướt quần lót). Đặt mỏ vịt âm đạo kiểm tra có thể thấy viêm niêm mạc âm đạo và xuất hiện các mảng màu trắng như phô mai tạo thành đám bám trên thành âm đạo. Thuốc đạn imidazole đặt âm đạo giúp cho việc điều trị. Cách khác, liều đơn độc fluconazole đường uống cũng rất hiệu quả.
3)
Hăm tã: Vùng ẩm ướt bên dưới tã và vùng da giữa các nếp gấp ở người lớn (ví dụ vùng da ở bên dưới vú) có thể trở nên đỏ và biến dạng thứ phát do Candida xâm nhiễm. Ở Người Bị Suy Giảm Miễn Dịch
4) Viêm thực quản: Nấm lan truyền từ miệng đến thực quản gây ra cảm giác nóng rát sau xương ức và đau hơn khi nuốt. Candida không gây ra viêm thực quản ở những người có hệ miễn dịch còn tốt!
5)
Lan tỏa: Candida có thể xâm nhiễm vào trong dòng máu và hầu như mọi cơ quan. Khi nghi ngờ nhiễm nấm Candida toàn phát, phải kiểm tra võng mạc bằng kính soi đáy mắt. Thỉnh thoảng có thể thấy nhiều mảng trắng. Liên Hệ Lâm Sàng: Nấm Candida bình thường được phát hiện từ đờm, nước tiểu và phân, điều này cho thấy là có nhiễm tạp chất. Nhưng khi phát hiện chúng ở trong máu thì không bao giờ là bình thường cả và phải được xem xét kỹ lưỡng!!! Việc chẩn đoán được dựa vào việc trộn các mẫu da với KOH; hoặc nhuộm và nuôi cấy các mẫu mô sinh thiết hoặc máu. Một loại xét nghiệm máu với beta-D-glucan, một loại thành phần cấu tạo nên vách tế bào của nấm, có thể được sử dụng trong việc chẩn đoán các loại nhiễm trùng xâm lấn do nấm bao gồm luôn cả nhiễm Candida toàn phát. Nhiễm trùng toàn phát cần phải điều trị bằng cách tiêm tĩnh mạch với amphotericin B,
fluconazole, hoặc nhóm echinocandin (caspofungin hoặc micafungin).
Aspergillus (Aspergillosis)
Chủng
Aspergillus, trong đó Aspergillus fumigatus là loại gây bệnh cho con người phổ biến nhất, chúng gây ra ở người ba loại bệnh lý chủ yếu: một loại phản ứng quá mẫn theo đường không khí được gọi là nhiễm nấm aspergillus phế quản – phổi dị ứng (ABPA), nhiễm trùng ở các hang phổi đã hình thành từ trước đó được gọi là u nấm aspergillus (aspergilloma), và nhiễm trùng xâm lấn ở phổi được gọi là
nhiễm aspergillus xâm lấn (invasive aspergillosis).
ASPIRATION of ASPERGILLUS = ASTHMA
21.8. Khi hít phải các bào tử nấm aspergillus có thể gây ra một loại bệnh lý được gọi là nhiễm nấm aspergillus phế quản – phổi dị ứng (ABPA). Các bào tử của nấm mốc Aspergillus trôi nổi khắp nơi trong không khí. Một vài người tiến triển phản ứng loại hen suyễn với những bào tử này.

Những người này có một loại phản ứng quá mẫn loại 1 (phản ứng dị ứng của miễn dịch qua trung gian IgE) kèm theo co thắt phế quản, gia tăng các kháng thể IgE và bạch cầu ái toan trong máu. Họ còn có biểu hiện của phản ứng type 4 (phản ứng dị ứng qua trung gian tế bào type quá mẫn muộn) kèm theo đáp ứng viêm qua trung gian tế bào (cell – mediated inflammation) và thâm nhiễm ở phổi. Các loại thuốc corticoid dạng tiêm và itraconazole dạng uống có hiệu quả trong điều trị.


21.9. Những người bị hang phổi do lao hoặc các bệnh lý ác tính có thể phát triển một lọa bóng nấm Aspergillus (aspergillus ball) trong các hang phổi này, được gọi là u nấm aspergillus. Bóng này có thể phát triển to lên (lớn như là quả bóng golf) và cần phải phẫu thuật để loại bỏ.


Ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch có thể tiến triển bệnh lý xâm lấn ở phổi và bệnh lý toàn phát. Chất nhầy trong máu có thể xảy ra, do thành mạch máu bị xâm lấn bởi nấm sợi
Aspergillus. Sự xâm nhiễm nấm Aspergillus thường xảy ra ở những người bị suy giảm miễn dịch chẳng hạn như bệnh nhân suy giảm bạch cầu hạt sau khi hóa trị liệu hoặc bệnh nhân sử dụng corticoid liều cao để chống sự thải ghép. Bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối và lượng CD4 dưới 50 tế bào/μL đôi khi cũng có thể tiến triển bệnh lý này.
Bệnh lý này tiến triển khá chậm chạp, thường viêm phổi thể không có triệu chứng (hoặc có kèm theo sốt nhẹ), được đặc trưng bởi rất nhiều các nốt xơ hóa trên ảnh CT-scan. Đây là bệnh lý có tỷ
lệ tử vong rất cao, và việc điều trị với các loại thuốc kháng nấm mạnh nhất là điều cần thiết để cứu sống bệnh nhân. Các lựa chọn trong điều trị bao gồm voriconazole, các chế phẩm amphotericin và caspofungin.
Aspergillus và các loại nấm khác tạo ra các loại độc tố gây tổn thương gan và ung thư gan. Những loại độc tố này được gọi là nhóm mycotoxin. Độc tố được tạo ra bởi Aspergillus được gọi là aflatoxin. Điều này có vai trò quan trong mang tính toàn cầu khi mà nấm Aspergillus phát triển ở khắp mọi nơi, chúng xâm nhiễm lên đậu phộng, ngũ cốc và gạo. Thực tế đó là chiếm một nữa số trường hợp ung thư ở phía nam sa mạc Sahara, Châu Phi là ung thư gan và 40% số lương thực được kiểm tra có chứa aflatoxin cho thấy rằng đây là một mối đe dọa thật sự.
Mucormycosis
Mucormycosis (zygomycosis) là một loại nhiễm trùng cơ hội được gây ra bởi một số loại nấm mốc trong nhóm Mucorales thuộc phân ngành (phylum) Zygomycota. Các tác nhân gây bệnh chủ yếu bao gồm Rhizopus, Rhizomucor Mucor. Đây là những loại nấm mốc được tìm thấy ở khắp mọi nơi trong môi trường sống. Những người có nguy cơ bị nhiễm trùng là những người bị nhiễm toan nặng, như là đái tháo đường, suy giảm miễn dịch, bỏng, và đang sử dụng deferoxamine chelat hóa sắt. Sự liên quan mũi – não (rhinocerebral) và phổi là điều rất phổ
biến. Các loại nấm mốc này xâm lấn vào các xoang, xương sọ và mạch máu. Việc điều trị cần phải phẫu thuật can thiệp cắt lọc và điều trị với thuốc kháng nấm bằng amphotericin hoặc posaconazole.
VI KHUẨN GIỐNG NẤM: ACTINOMYCETES VÀ NOCARDIA
21.10. Actinomycetes là nhóm vi khuẩn có tính hoạt động giống nấm. Đây là những vi sinh vật nhân thực
và bản chất là vi khuẩn. Chúng lại được phân loại ở đây bởi vì chúng thường sinh trưởng ở dạng hệ sợi
nấm và là những vi sinh vật hoại sinh cư trú trong nước và đất. Có 2 loại gây bệnh cho con người đó là
Actinomyces Nocardia, chúng đều là trực khuẩn gram dương.

Actinomyces Israelii
4 khái niệm chính mà bạn nên biết về loại vi sinh vật này:
1) Đây là vi khuẩn gram dương, có dạng chuỗi hạt, vi sinh vật kị khí dạng sợi dài, chúng phát triển như là hệ vi khuẩn chí trong miệng và trong đường tiêu hóa.
2) Chúng gây ra những ổ abces sau khi bị chấn thương ở lớp niêm mạc miệng hoặc đường tiêu hóa. Sự nhiễm trùng này được đặt tên dựa theo các vùng của cơ thể, nơi mà có abces hình thành:
nhiễm trùng do actinomyces ở mặt cổ (cervicofacial actinomycosis), nhiễm trùng do actinomyces ở bụng (abdominal actinomycosis) và nhiễm trùng do actinomyces ở lồng ngực (thoracic actinomycosis)
3) Khi quan sát mủ thoát ra từ các ổ abces dưới kính hiển vi thấy có các hạt bắt màu vàng, được gọi
là hạt sulfur. Bản chất của các hạt này không phải sulfur mà đó chính là các vi khuẩn lạc Actinomyces và các mảnh vụn của tế bào.
4) Điều trị vi khuẩn gram dương này bằng
penicillin G và phẫu thuật dẫn lưu. Chú ý: Actinomyces Nocardia đều có dạng sợi chuỗi, là những vi sinh vật phân nhánh gram dương, nhưng chỉ có Actinomyces tạo ra các nốt sulfur, và chỉ có Nocardia là kháng acid.
Nocardia asteroides
Nocardia là vi sinh vật gram dương, có dạng sợi chuỗi mảnh phân nhánh có thành phần kháng acid! Nó không được xếp vào hệ vi sinh vật có lợi. Nhiễm Nocardia thường bị chẩn đoán nhầm là bệnh lao bởi vì nó là vi khuẩn kháng acid và gây ra bệnh lý tiến triển giống như lao.
Giống như
Mycobacterium tuberculosis, Nocardia xâm nhiễm và sinh trưởng ở phổi để gây ra các ổ abces và hang phổi. Chúng có thể ăn mòn vào khoang màng phổi, cũng như là lan toản vào máu – xương, gây ra các ổ abces ở não và các cơ quan khác. Ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, nhất là những bệnh nhân đang sử dụng nhóm kháng viêm steroid, đặc biệt có nguy cơ bị lây nhiễm Nocardia. Điều trị với trimethoprim sulfamethoxazole.
Liệu pháp điều trị
Actinomyces Nocardia đó là SNAP!

Sulfa cho
Nocardia
Actinomyces chỉ định
Penicillin
21.11. Bảng Tóm Tắt Về Nấm

Bài viết được dịch từ sách ” Clinical Microbiology made ridiculously simple 

Xem tất cả bài biết   tại: https://ykhoa.org/category/khoa-hoc/vi-sinh-lam-sang/

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu Lac Thu

Check Also

[Xét nghiệm 49] Glucose máu (Glucose, Glycémie Veineusse / Blood Sugar, Glucose in Whole Blood, Serum, Plasma, Fasting Plasma Glucose)

Advertisement Nhắc lại sinh lý Bình thường glucose máu xuất xứ từ 2 nguồn hoàn …