[Medscape] Thuốc hạ huyết áp đặc hiệu ngăn ngừa khởi phát một đái tháo đường mới

Advertisement

Hạ huyết áp – được biết đến là ngăn ngừa các biến chứng mạch máu của đái tháo đường típ 2 – cũng có thể ngăn ngừa sự khởi phát đái tháo đường, mặc dù hiệu quả khác nhau tuỳ thuộc từng nhóm thuốc hạ áp, kết quả từ một chương trình phân tích tổng hợp mới.

Chất ức chế men chuyển angiotensin (ACE) và chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) – được gọi là ức chế hệ renin-angiotensin (RAS) – cho thấy mối liên hệ mạnh mẽ với tác dụng phòng ngừa, trong khi ngược lại, thuốc hạ áp chẹn beta và lợi tiểu thiazide có liên quan đến việc tăng nguy cơ khởi phát một đái tháo đường mới.

“Nghiên cứu này cho thấy việc hạ áp có thể giúp phòng ngừa đái tháo đường ngoài những tác dụng có lợi đã được xác định trong việc hạn chế các biến cố tim mạch”, Milad Nazarzadeh và đồng nghiệp với thử nghiệm hợp tác điều trị hạ huyết áp trong bài báo được xuất bản trên The Lancet cho biết.

“Các tác dụng khác nhau của từng nhóm thuốc hỗ trợ việc đưa ra quyết định lựa chọn thuốc hạ áp cho từng đối tượng nguy cơ,” Nazarzadeh, thuộc Deep Medicine, Trường Oxford Martin, Đại học Oxford, Anh và các đồng nghiệp lưu ý.

“Đặc biệt, “[ức chế RAS], ức chế ACE và ARBs, nên trở thành loại thuốc được chọn khi nguy cơ lâm sàng có liên quan đến đái tháo đường, trong khi chẹn beta và lợi tiểu thiazid nên tránh nếu có thể,” họ cho biết thêm.

Trong biên tập kèm theo, Matthew A. Cavender, MD, MPH và Robert C. Wirka, MD, thuộc Đại học Bắc Carolina tại Chapel Hill, đồng ý rằng những phát hiện mới, cùng với phần lớn những bằng chứng trước đó, chỉ ra vai trò quan trọng của thuốc ức chế RAS trong ngăn ngừa đái tháo đường.

“Dựa trên những bằng chứng thu thập được, bao gồm kết quả của những phân tích này, kiểm soát huyết áp, đặc biệt là với ức chế RAS, nên được xem như một chiến lược khả thi để giảm nguy cơ phát triển đái tháo đường,” họ viết.

Họ cũng lưu ý rằng, trong khi “việc giảm nguy cơ tuyệt đối được tìm thấy trong những phân tích tổng hợp này chỉ là vừa phải, nhưng những can thiệp với lợi ích nhỏ có thể hình thành một tác dụng lớn khi áp dụng cho các tình trạng phổ biến như tăng huyết áp.”

Và bàn luận về những nghiên cứu từ Trung tâm Khoa học & Truyền thông Anh, Marc George, MBChB, Tiến sĩ, trưởng nhóm lâm sàng huyết áp cho Bệnh viện Đại học College London, Anh, cho biết: “Việc hạ huyết áp phòng ngừa những cơn đau tim, đột quỵ, suy thận, và nghiên cứu mới với quy mô lớn và toàn diện được công bố trên The Lancet cũng cho thấy rằng nó làm giảm nguy cơ phát triển bệnh đái tháo đường. Cho đến nay tác dụng này vẫn chưa thực sự rõ ràng”.

Kevin McConway, tiến sĩ, giáo sư danh dự về thống kê ứng dụng, Đại học Mở, Anh, đồng tình tương tự: “mặc dù có những bằng chứng tốt về làm giảm huyết áp, nếu như nó quá cao, và có thể có những lợi ích sức khoẻ quan trọng trong việc giảm nguy cơ đau tim và đột quỵ, tuy nhiên vẫn chưa rõ liệu giảm huyết áp có thể giảm nguy cơ tiến triển đái tháo đường típ 2 trong tương lai hay không. Đây là một nghiên cứu ấn tượng.”

Ức chế RAS liên quan tới giảm nguy cơ đái tháo đường

Những phát hiện từ một phân tích tổng hợp dữ liệu cá nhân của 19 mẫu thử nghiệm ngẫu nhiên, kiểm soát giả dược từ năm 1973 đến năm 2008 và gồm 5 nhóm thuốc hạ áp chính: ức chế ACE, ARBs, chẹn beta, lợi tiểu thiazid, và chẹn kênh canxi.

Nhìn chung, nghiên cứu bao gồm 145,939 người tham gia, với 60.6% là nam giới.

Trong thời gian theo dõi trung bình từ 4.5 năm, 9883 người tham gia nghiên cứu đã khởi phát một đái tháo đường típ 2 mới.

Những người điều trị ức chế ACE hay ARBs có giảm tương đối nguy cơ đái tháo đường típ 2 mới khởi phát gần như tương đương ( cả hai đều giảm nguy cơ [RR] 0.84) so với giả dược.

Tuy nhiên, điều trị với chẹn beta hay lợi tiểu thiazid lại liên quan với sự tăng nguy cơ đái tháo đường típ 2 (RR, tương ứng là 1.48 và 1.20) phù hợp với bằng chứng trước đó, cụ thể là lợi tiểu thiazid hàng thứ hai và chẹn beta hàng thứ ba làm tăng nguy cơ đái tháo đường.

Không có giảm hoặc tăng đáng kể nguy cơ được quan sát thấy trên chẹn kênh canxi (RR, 1.02).

Với ức chế ACE và ARBs, giảm mỗi 5mmHg huyết áp tâm thu liên quan với giảm 11% nguy cơ phát triển đái tháo đường.

“Giảm một lượng tương đối mỗi 5mmHg huyết áp tâm thu cũng tương tự với những báo cáo về phòng ngừa các biến cố tim mạch,” các tác giả cho biết.

“Điều này sẽ củng cố cho những trường hợp giảm huyết áp nhờ can thiệp lối sống được biết đến là làm giảm huyết áp, và điều trị giảm áp với thuốc, các liệu pháp thiết bị,” họ cho biết.

Ngược lại, nghiên cứu đã gợi ý rằng tăng 20mmHg huyết áp tâm thu có liên quan đến tăng 77% nguy cơ đái tháo đường típ 2, tuy nhiên, nguyên nhân của sự liên hệ này không chắc chắn, tác giả lưu ý.

Advertisement

Kết quả bổ sung vào thiếu sót trong chứng minh cho Guidelines

Các nghiên cứu phân tích tổng hợp đã được xác nhận thêm trong một phân tích ngẫu nhiên thuyết di truyền Mendel bổ sung, sử dụng dữ liệu từ Hiệp hội Quốc tế về nghiên cứu liên quan đến gen huyết áp và UK Biobank. Phân tích cho thấy rằng những người có gen biến đổi có tác dụng tương tự trên con đường RAS như ức chế ACE và ARBs cũng làm giảm nguy cơ đái tháo đường.

Về điểm này, Dipender Gill, BMBCh, Tiến sĩ, giảng viên dược lý lâm sàng và trị liệu tại St George, Đại học London, nói với Trung tâm Khoa học và Truyền thông Anh: “Đây là một nghiên cứu toàn diện 3 yếu tố: thử nghiệm lâm sàng, dữ liệu di truyền để tìm ra sự hỗ trợ lên tác dụng giảm huyết áp thông qua các mục tiêu dược lý cụ thể về kiểm soát đường huyết và nguy cơ đái tháo đường típ 2.”

Nazarzadeh và các đồng nghiệp nói rằng có một sự không chắc chắn về việc liệu giảm nguy cơ đái tháo đường là do huyết áp hạ xuống, hay bởi vài tác dụng khác của thuốc hạ áp, có nghĩa là những khuyến cáo của Guideline về vai trò của thuốc hạ áp đã bị thiếu.

Tuy nhiên, tác giả khẳng định rằng “nghiên cứu của chúng tôi bổ sung thiếu sót này vào các bằng chứng sử dụng dữ liệu từng cá nhân tham gia bằng thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát và đánh giá tác dụng cho mức độ hạ áp cố định đã được chuẩn hoá.”

“Với kết quả nhất quán từ cả thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát và phân tích di truyền, chúng tôi chỉ ra rằng tăng huyết áp thực sự là một yếu tố nguy cơ cho việc đái tháo đường típ 2 mới khởi phát ở những người không được chẩn đoán mắc đái tháo đường, có hiệu quả tương đương với những gì đã được thấy để phòng ngừa bệnh lý tim mạch chính,” họ cho biết.

Các tác giả của Guideline tăng huyết áp Hoa Kỳ nên tuân theo sự chỉ dẫn của ESC

Theo Guideline của Hiệp hội Tim mạch châu Âu (ESC), các chất ức chế RAS (kết hợp với chẹn kênh canxi hoặc lợi tiểu) có khuyến nghị cấp 1 về điều trị tăng huyết áp, tuy nhiên, đái tháo đường và bệnh lý tim mạch ở Hoa Kỳ chỉ được khuyến nghị ưu tiên cho chất ức chế RAS so với các tác nhân khác trong số những người đồng thời có albumin niệu.

Nhưng với ước tính 13% người Mỹ mắc đái tháo đường và 34.5% người tiền đái tháo đường, cần nhiều sự đo lường hơn để khắc phục vấn đề là là một điều khẩn cấp, Cavender và Wirka nói trong bài biên tập của họ.

“Có lẽ những dự liệu này đủ để khuyến khích các tác giả của Guidelines ở Mỹ tuân theo sự chỉ dẫn ESC để làm cho những chất ức chế RAS trở thành thuốc huyết áp đầu tay điều trị cho tất cả bệnh nhân và không chỉ ở những người có albumin niệu,” họ cho biết.

Nguồn: Specific Blood Pressure-Lowering Drugs Prevent Onset of New Diabetes – Medscape 

Lancet. 2021;398:1778-1779, 1803-1810

Full text: https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(21)01920-6/fulltext

Abstract: https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(21)02340-0/fulltext

Link: https://www.medscape.com/viewarticle/962808#vp_1

Bài viết được dịch thuật và biên tập bởi ykhoa.org – vui lòng không reup khi chưa được cho phép!

Người dịch: Lê Vy

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu dolevy

Check Also

[Medscape] Mối bận tâm về biến chủng COVID mới đưa đến lệnh cấm di chuyển tới Mỹ

Advertisement Vào thứ Sáu, Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) đã phân loại một …