[Sản khoa cơ bản số 14] Xác định tuổi thai và các vấn đề có liên quan

Advertisement

Mục tiêu bài giảng

Sau khi học xong, sinh viên có khả năng:

1. Trình bày được các phương pháp tính tuổi thai dựa vào lâm sàng

2. Trình bày được các phương pháp tính tuổi thai dựa vào cận lâm sàng

3. Tính được tuổi thai chính xác cho từng trường hợp cụ thể

Tuổi thai và các phương pháp dùng để tính tuổi thai

Tuổi thai là số ngày tính từ ngày đầu chu kỳ kinh cuối, là yếu tố quan trọng cần xác định sớm và chính xác.

Tuổi thai thường được đề cập trong thực hành lâm sàng là số ngày được tính từ ngày đầu chu kỳ kinh cuối cùng. Ngày đầu kỳ kinh cuối cùng này có thể là ngày đầu kỳ kinh cuối thực sự hay ngày đầu kỳ kinh cuối giả định và chu kỳ kinh được mặc định ở đây kéo dài 28 ngày với hiện tượng phóng noãn xảy ra vào ngày thứ 14 của chu kỳ. Như vậy, tuổi thai thường được dùng trong thực hành lâm sàng lớn hơn tuổi thật của phôi/thai 14 ngày.

Tuổi thai là một trong những vấn đề quan trọng cần xác định sớm trong thai kỳ vì thông qua đó người bác sĩ sản khoa sẽ đưa ra lịch trình thăm khám phù hợp cho thai phụ, xác định được thời điểm thực hiện các xét nghiệm sàng lọc cho thai nhi, đưa ra hướng xử trí phù hợp trong trường hợp dọa sinh non, sinhnon hay thai quá ngày cũng như đánh giá đúng sự tăng trưởng của thai nhằm phát hiện kịp thời những trường hợp thai tăng trưởng bất thường. Đánh giá chính xác tuổi thai đem lại nhiều lợi ích như làm giảm được tỉ lệ can thiệp trong thai quá ngày, cải thiện được giá trị dự đoán của test sàng lọc trong hội chứng Down.

Có nhiều phương pháp và chiến lược tính tuổi thai với mục tiêu chung là xác định tuổi thai chính xác nhất.

Định tuổi thai thông qua ngày đầu kỳ kinh cuối là phương pháp phổ biến, rẻ tiền và có độ chính xác tương đối.

Đây là yếu tố đầu tiên cần quan tâm khi muốn xác định tuổi thai và ngày dự sinh. Ngày sinh dự đoán là 280 ngày kể từ ngày đầu kỳ kinh cuối cùng, có thể tính theo công thức Naegele bằng cách lấy ngày đầu kỳ kinh cuối cộng 1 năm, trừ 3 tháng và cộng 7 ngày.

Để có thể tính được chính xác tuổi thai dựa trên ngày đầu kỳ kinh cuối đòi hỏi thai phụ phải có kinh đều, chu kỳ 28 ngày, có phóng noãn xảy ra vào ngày 14 của chu kỳ và hiện tượng thụ tinh cũng xảy ra tại thời điểm này, thai phụ phải nhớ chính xác ngày đầu kỳ kinh cuối và không sử dụng tránh thai nội tiết gần thời điểm mang thai (trong vòng 2 tháng).

Có nhiều yếu tố có thể gây sai lệch như chu kỳ kinh dài, không đều hoặc hiện tượng xuất huyết âm đạo bình thường hay bất thường trong tam cá nguyệt I. Tuy nhiên, ngay cả khi thỏa điều kiện thì trên thực tế cũng không thể biết được chính xác ngày phóng noãn, ngày thụ tinh và ngày làm tổ của thai. Một người phụ nữ bình thường có thể có nhiều đoàn hệ nang noãn được chọn lọc và phát triển trong cùng một chu kỳ kinh nên thời điểm phóng noãn không phải luôn hằng định. Ngay cả khi thai phụ chắc chắn về kỳ kinh cuối cùng của mình, hiện tượng phóng noãn muộn cũng có thể khiến thai kỳ “kéo dài” nếu tuổi thai được tính bằng ngày đầu kỳ kinh cuối đơn thuần. Phóng noãn muộn lại thường xảy ra hơn so với phóng noãn sớm. Mặt khác, tinh trùng có thể sống 5-7 ngày trong đườnh sinh dục nữ vì vậy ngày thụ tinh cũng khó có thể biết chính xác được. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào ngày đầu kỳ kinh cuối đơn thuần để tính tuổi thai sẽ có nhiều sai lệch.

Định tuối tuổi thai chính xác nhất trong trường hợp thai kỳ có được bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Trong những thai kỳ có được bằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hay khi có sử dụng các biện pháp gây phóng noãn, có thể tính tuổi thai một cách chính xác vì biết được ngày phóng noãn hoặc ngày chuyển phôi và tuổi phôi. Trong trường hợp chuyển phôi, ngày dự sinh có thể tính được bằng cách lấy 266 trừ đi tuổi phôi (tính bằng ngày).

Các dữ kiện thu thập được qua thăm khám lâm sàng cũng có liên quan đến tuổi thai nhưng không dùng để tính tuổi thai.

Tử cung gia tăng kích thước khi thai lớn lên vì vậy kích thước tử cung có liên quan đến tuổi thai. Người ta có thể ước lượng tuổi thai (tính theo tháng) bằng cách lấy bề cao tử cung chia 4 cộng với 1. Thông thường, khi thai được 20 tuần, đáy tử cung sẽ nằm ở ngang rốn, sau 20 tuần bề cao tử cung (tính bằng cm) sẽ tương ứng với số tuần tuổi thai. Tuy nhiên, cách tính này không thể cho ra được tuổi thai cụ thể theo tuần thậm chí theo ngày và còn bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: tử cung có u xơ, thành bụng người mẹ dày, mức độ tăng trưởng của thai… nên trong thực hành không dùng các dữ kiện này để tính tuổi thai.

Siêu âm định tuổi thai

Siêu âm trong tam cá nguyệt thứ nhất là phương pháp tốt nhất để định tuổi thai.

Có thể dùng siêu âm để định tuổi thai vì kích thước của phôi và thai phát triển tương ứng với tuổi thai. Tuy nhiên, sự khác biệt về sinh trắc của phôi ở tam cá nguyệt I ít hơn của thai ở cuối tam cá nguyệt II và III nên siêu âm trong tam cá nguyệt I (đến 13 tuần 6 ngày) là phương pháp chính xác nhất để định tuổi thai. Người ta có thể dùng đường kính trung bình của túi thai (mean gestational sac diameter) (MSD), chiều dài đầu mông (crown-rump length) (CRL) hoặc các chỉ số sinh trắc khác của thai như đường kính lưỡng đỉnh (biparietal diameter) (BPD), chu vi đầu (head circumference) (HC) để định tuổi thai.

Đường kính trung bình của túi thai (MSD) là chỉ số có thể đo đạc được sớm nhất.

Đường kính trung bình của túi thai (MSD): khi thai 3-5 tuần tuổi, trên siêu âm có thể thấy được hình ảnh của một túi thai tròn đều, có hình ảnh vòng đôi, sẽ phát triển thành xoang ối sau này. Túi thai sớm nhất có thể thấy được qua siêu âm ngả âm đạo khi có kích thước 2-3 mm tương ứng với tuổi thai 32-33 ngày, MSD tăng trung bình 1 mm mỗi ngày. Đây là yếu tố phổ biến, tiêu chuẩn giúp định tuổi thai sớm nhất qua siêu âm. Tuổi thai (ngày) có thể tính được bằng cách lấy MSD cộng 30. Tuy nhiên, độ chính xác của MSD sẽ giảm khi MSD lớn hơn 14 mm hoặc khi xuất hiện phôi. Khi đã có phôi, không nên dùng MSD để tính tuổi thai nữa vì tuổi thai tính bằng MSD có nhiều sai số hơn so với CRL.

         Tuổi thai (ngày vô kinh) = 30 + MSD (mm)

Advertisement

Túi noãn hoàng (Yolk-sac): có thể thấy sớm nhất lúc thai 5 tuần hoặc trễ hơn, lúc thai 6 tuần. Yolk-sac đạt kích thước lớn nhất vào khoảng 6 mm lúc thai 10 tuần, sau đó nó sẽ di chuyển ra ngoại vi của xoang ối. Tuy nhiên, người ta không dùng yolk sac để xác định tuổi thai.

Chiều dài đầu mông (CRL): là chỉ số giúp định tuổi thai chính xác nhất với sai số ± 3-8 ngày.

CRL đo được tốt nhất khi ≥ 10 mm nên nếu có nhiều kết quả siêu âm ở tam cá nguyệt I thì nên dùng kết quả siêu âm sớm nhất với CRL ≥ 10 mm để tính tuổi thai. Tuổi thai (tuần) có thể tính được bằng cách lấy CRL cộng 6.5 hoặc bằng cách lấy CRL cộng 42 chia 7. Khi CRL > 84 mm thì độ chính xác của nó trong việc định tuổi thai giảm đi nên lúc đó cần sử dụng các chỉ số sinh trắc khác.

Tuổi thai (ngày vô kinh) = 42 + CRL (mm)

Đường kính lưỡng đỉnh (BPD) và chu vi đầu (HC): ở thời điểm 11-13 tuần 6 ngày, sử dụng CRL và BPD có độ chính xác tương đương nhau trong việc định tuổi thai tuy nhiên khi CRL > 84 mm thì nên dùng BPD hoặc HC. Tại thời điểm 11 tuần, trị số BPD trung bình là 17 mm và sẽ tăng 3 mm mỗi tuần.

Tuổi thai (tuần vô kinh) = 1/3 X (BPD – 17) + 11

HC có độ chính xác cao hơn BPD một chút, do tránh được khả năng sai sót từ việc chỉ dựa trên một đường kính duy nhất của đầu.

Siêu âm trong tam cá nguyệt II và III không còn chính xác để định tuổi thai.

Ở tam cá nguyệt II và III có thể sử dụng các chỉ số sinh trắc có được qua siêu âm như đường kính lưỡng đỉnh, chu vi đầu, chu vi bụng (adomen circumference AC) và chiều dài xương đùi (femur length FL) để tính tuổi thai. Sẽ khó khăn trong các trường hợp như khi đầu thai đã xuống thấp ở giai đoạn cuối thai kỳ, mẹ béo phì, đa thai.

Nếu cần phải tính tuổi thai ở tam cá nguyệt II hoặc III, nên phối hợp nhiều chỉ số để tăng độ chính xác vì mỗi chỉ số đều có thể sai lệch trong những trường hợp nhất định. BPD có thể không chính xác khi hộp sọ thai có hình dạng đặc biệt như hộp sọ dài hay brachycephaly, AC dễ sai số vì bụng không có xương bao quanh, không đối xứng mà sẽ thay đổi theo cử động thai, FL lại thay đổi nhiều theo chủng tộc hoặc trong các bất thường như lệch bội hay bất sản xương.

Quan trọng nhất là đến nay vẫn chưa tìm ra được phương trình hồi quy tối ưu nhất để phối hợp nhiều chỉ số trong việc tính tuổi thai, thêm vào đó những khác biệt về sinh học bình thường cũng ảnh hưởng đến các chỉ số sinh trắc trong tam cá nguyệt II và III vì vậy ở nửa sau của thai kỳ việc định tuổi thai bằng siêu âm không còn chính xác như trong tam cá nguyệt I.

Nếu dùng siêu âm ở tam cá nguyệt II, tuổi thai tính được có thể sai lệch 7-12 ngày và ở tam cá nguyệt III sai lệch lên đến 18-35 ngày. Khi thai càng lớn việc định tuổi thai càng không chính xác.

Phương pháp định tuổi thai tối ưu nhất

Siêu âm tam cá nguyệt I là phương pháp tốt nhất để định tuổi thai với độ chính xác cao hơn ngày đầu chu kỳ kinh cuối kể cả khi thai phụ nhớ chính xác kỳ kinh cuối. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào siêu âm đơn thuần có thể sai lệch trong những trường hợp thai quá to hay quá nhỏ, từ đó có thể che lấp một số trường hợp bất thường tuần hoàn nhau thai. Phương pháp được dùng ở một số trung tâm sản khoa trên thế giới là phối hợp kỳ kinh cuối và siêu âm tam cá nguyệt I, trong đó siêu âm được dùng để xác định lại độ tin cậy của kỳ kinh cuối. Nếu sai lệch quá nhiều thì cần hiệu chỉnh lại tuổi thai theo siêu âm. Cụ thể cần hiệu chỉnh nếu thai dưới 9 tuần tuổi mà sai lệch trên 5 ngày, hoặc khi thai từ 9 tuần tuổi đến 13 tuần 6 ngày mà sai lệch trên 7 ngày.

Nếu chu kỳ kinh không đủ tiêu chuẩn hoặc không nhớ rõ kỳ kinh cuối thì xác định tuổi thai bằng siêu âm tam cá nguyệt I. Nếu không có siêu âm tam cá nguyệt I, có thể dựa vào siêu âm sớm trong tam cá nguyệt II.

Tài liệu đọc thêm

Obstetrics and gynecology 7th edition. Tác giả Beck- mann. Hợp tác xuất bản với ACOG. Nhà xuất bản Wolters Kluwer Health 2014.

Tài liệu tham khảo chính

1.Obstetrics and gynecology 7th edition. Tác giả Beck- mann. Hợp tác xuất bản với ACOG. Nhà xuất bản Wolters Kluwer Health 2014.

2.Âu Nhựt Luân(2018). Bài giảng TBL sản khoa Y4. Đại học Y  TP Hồ Chí Minh

Xem tất cả các bài TBL Sản khoa tại: https://ykhoa.org/category/khoa-hoc/khoa-hoc-lam-sang/tbl-san/

 

 

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu BinhPhan

Check Also

[Sản khoa cơ bản số 86] Vàng da sơ sinh

Advertisement Mục tiêu bài giảng Sau khi học xong, sinh viên có khả năng: 1. …