[Sổ tay Harrison Số 1] Đánh giá ban đầu và Nhập viện bệnh nhân nội trú

nhân được nhập viện khi (1) họ được bác sĩ đưa ra một chẩn đoán mà không đủ hoặc hoặc hiệu quả khi nhân ngoại trú; hoặc (2) họ có lý cấp tính và phải làm những , những can thiệp, và điều trị nội trú. Quyết định nhập viện một nhân gồm xác định khoa nhân cần vào (ví dụ, medicine, tiết niệu, ), mức độ chăm sóc (theo dõi, general floor, telemetry, ICU), và các tư vấn cần thiết. Khi nhập viện cần ghi rõ thông tin liên lạc của nhân và gia đình, và để thông báo những sự việc ở trong viện. nhân thường có nhiều bác sĩ, và dựa trên bản chất của các vấn đề , họ thường liên lạc để khai thác tiền sử cái lí liên quan và để chăm sóc nhân lúc trong và sau khi ra viện. Các hồ sơ y tế điện tử hứa hẹn sẽ tạo điều kiện để liên lạc các thông tin y tế giữa các bác sĩ, viện và các dịch vụ chăm sóc khác.


Phạm vi tật của nội khoa là rất lớn. Trong một ngày ở một dịch vụ chăm sóc y tế thông thường, thật không dễ dàng cho các bác sĩ, đặc biệt residents in training, để nhận 10 nhân với 10 chẩn đoán khác nhau ảnh hưởng trên 10 cơ quan khác nhau. Với sự đa dạng của tật, điều là phải có tính hệ thống và nhất quán trong nhân mới.


Các bác sĩ thường lo lắng về việc mắc lỗi. Ví dụ như kê một kháng sinh không đúng cho một người bị phổi hoặc tính toán sai liều của heparin cho một nhân bị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT). Tuy nhiên, các lỗi thiếu sót cũng thường phổ biến và có thể dẫn đến kết quả là nhân bị bỏ qua những can thiệp có thể cứu sống họ. Ví dụ đơn giản như: không kiểm tra biland lipid cho nhân bị động mạch vành, không kê ƯCMC (ACE) cho một nhân tiểu đường có albumin niệu, hoặc là quên cho nhân gãy xương chậu do loãng xương uống calci, , và một bisphosphonate đường uống.


nhân điều trị nội trú thường chỉ chú trọng vào chẩn đoán và điều trị những vấn đề nội khoa cấp tính. Tuy nhiên, phần lớn nhân có nhiều vấn đề ảnh hưởng trên nhiều cơ quan, và thật ra cũng quan trong như nhau để ngăn ngừa các biến chứng tại viên. Ngăn ngừa các biến chứng viện phổ biến, như huyết khối tĩnh mạch sâu, dạ dày, chéo, té ngã, mê sảng, và do tỳ đè, là một khía cạnh của chăm sóc nhân nội khoa nói chung.


Một các thống nhất trong tiếp nhận nhân giúp đảm bảo toàn diện và những chỉ định rõ ràng có thể được viết và thực hiện một cách kịp thời. Một số thuật nhớ sẽ rất hữu ích khi viết chỉ định nhập viện. Một danh sách kiểm tra để nhập viên được đề xuất ở bên dưới;
Nó gồm một số biện pháp can thiệp nhằm ngăn chặn biến chứng thường gặp trong viện. Hệ thống nhập lệnh bằng máy tính của hữu ích khi thiết kế để nhắc nhở cơ cấu của mệnh lệnh nhập viện. Tuy nhiên, những điều này không nên được sử dụng để loại trừ các mệnh lệnh phù hợp cho các nhu cầu của một nhân riêng lẻ.

Advertisement


Danh sách kiểm tra: DẤU HIỆU SINH TỒN VÀ KHÁM
Tiếp nhận: vào khoa (Nội khoa, Ung thư, ICU); tình trạng (cấp tính hoặc theo dõi thêm).
Chẩn đoán: làm các công việc để chẩn đoán sớm.
Bác sĩ: tên của chuyên gia, bác sĩ, nội trú, sinh viên chăm sóc nhân.
Cách lí: cách li tiếp xúc hoặc qua , lí do.
Telemetry: Chỉ định theo dõi và máy theo dõi.
DHST: tần số, đặc biệt là KMĐM và huyết áp tư thế.
Đặt đường truyền TM, truyền dịch, dinh dưỡng ngoài ruột (Chương 2).
Điều trị: , vật lí trị liệu, hoạt động trị liệu.
: loại phản ứng di ứng.
: CTM, hóa sinh, đông máu, test đặc hiệu.
CĐHA: CT, siêu âm, chụp mạch, nội soi.
Sinh hoạt: hướng dẫn đi lại, khuân vác, tránh ngã.
Chế độ ăn: gồm ăn qua miệng, sonde.
Phòng dạ dày: dùng PPI hoặc misoprostol cho nguy cơ cao.
Heparin hoặc (warfarin, băng áp lực) dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu.
Rút sonde Foley và các đường truyền không cần thiết phòng nhiễm khuẩn.
Chăm sóc da: phòng tì đè và chăm sóc vết thương.
Đo CNHH: phòng xẹp phổi, phổi bệnh viện.
Calcium, , và bisphosphonates nếu dùng corticoid, gãy xương, loãng xương.
UCMC và : dùng cho tất cả có bệnh mạch vành, ĐTĐ
: đánh giá và điều trị cho tất cả có bệnh tim mạch.
ECG: >50 tuổi lúc nhập viện.
Xquang: xquang ngực, bụng; đánh giá ống NKQ.
: theo đơn của bác sĩ

Có thể ghi nhớ “Stat DRIP” để dễ dàng trong cách sử dụng (stat, daily, round-the-clock, IV, and prn medications). Để thuận lợi cho bác sĩ, nên đưa ra các hay dùng (prn medications) như acetaminophen, diphenhydramine, nhuận tràng, ngủ.


Nguồn: Harrison Manual of Medicine 18th

Tham khảo bản dịch của: nhóm “Chia Ca

 

Advertisement

Giới thiệu Donny

Avatar

Like page Y lâm sàng để cập nhật những thông tin và bài viết mới nhất!

Check Also

[Sổ tay Harrison Số 150] Lọc máu

I. TỔNG QUAN Quyết định bắt đầu lọc máu luôn dựa trên sự kết hợp …