[Sổ tay Harrison Số 42] Phù

ĐỊNH NGHĨA

Phù mềm do tăng thể tích dịch kẽ bất thường. Dịch phù là dịch thấm huyết tương tích luỹ lại khi dịch di chuyển từ mạch máu đến khoang kẽ. Vì phù toàn thân thấy được ở người lớn phản ánh lượng dịch ≥3 L, cơ chế   giữ muối và nước là điều cần thiết để phù xảy ra. Cách thức phù phân bố là một chỉ dẫn quan trọng.

Phù khu trú

Giới hạn ở một đặc biệt hoặc giường mạch máu; dễ dàng phân biệt được với phù toàn thân. Phù một bên chi thường do tắc tĩnh mạch hoặc mạch bạch huyết (vd, huyết khối tĩnh mạch sâu, tắc do u, phù bạch huyết nguyên phát). Phù ứ trệ ở một chi dưới bị liệt cũng có thể xảy ra. Phản ứng (“phù mạch”) và tĩnh mạch chủ trên là những nguyên nhân gây phù mặt khu trú. Phù hai chi dưới có thể do nguyên nhân khu trú, vd, tĩnh mạch chủ dưới, chèn ép do dịch báng (báng bụng), u ở ổ bụng. Dịch báng (dịch trong ổ phúc mạc) và dịch (trong khaong ) cũng có thể hiện diện trong phù khu trú đơn độc, do hoặc u tân sinh.

Phù toàn thân

Phù mềm ở đa số hoặc khắp mọi nơi trên cơ thể. Phù hai chi dưới, thường xuất hiện sau khi đứng nhiều giờ, và phù phổi thường có nguyên nhân nguồn gốc từ tim mạch. Phù quanh ổ sau khi ngủ dậy thường do và giảm bài tiết Na. Báng bụng, phù hai chi dưới và phù thắt lưng thường thấy trong xơ , hư, hoặc suy tim sung huyết.
Trong suy tim sung huyết, giảm cung lượng tim và giảm đổ đầy động mạch gây giảm tưới máu và tăng áp lực tĩnh mạch, hậu quả là ứ Na trong do co mạch máu , tái phân bố dòng máu chảy trong , tác động ứ Na trực tiếp của norepinephrine và angioten-sin II, và cường thứ phát.
Trong, nối tắt động-tĩnh mạch và giãn mạch ngoại biên làm giảm tưới máu , hậu quả là ứ Na. Dịch báng tích luỹ khi tăng kháng lực mạch máu trong gây ra tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Còn trong suy tim, những tác động của norepinephrine, angiotensin II, và vượt mức trong và trong hệ tuần hoàn đưa đến việc giữ Na trong và gây phù nhiều hơn. Giảm albumin máu và tăng áp lực ổ bụng cũng thúc đẩy phù chi dưới.
Trong cấp hoặc mạn, phù xảy ra khi lượng Na nhập vào vượt quá khả năng đào thả

chứng hư, suy dinh dưỡng, mạn) giảm áp suất thể tích huyết tương, đẩy dịch thấm vào khoang kẽ; giảm thể tích máu hiệu quả kích thích giữ Na trong và gây phù.
Các nguyên nhân ít phổ biến gây phù toàn thân: phù vô căn, một của tăng cân nhanh chóng tái phát và phù ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản; , phù niêm thường khu trú trước xương chày; thuốc (Bảng 42-1).

Advertisement

Chế độ ăn kiêng Na (<500 mg/d) có thể ngăn chặn hình thành phù. Nghỉ ngơi tại giường tăng đáp ứng với việc giảm lượng muối trong suy tim sung huyết và xơ . Mang vớ hỗ trợ và nâng cao chi bị phù giúp di chuyển dịch kẽ. Nếu giảm natri máu nặng (<132 mmol/L), nên giảm lượng nước nhập vào (<1500 mL/d). Chỉ định thuốc lợi tiểu (Bảng 42-2) khi có phù ngoại biên rõ rệt, phù phổi, suy tim sung huyết, chế độ ăn kiêng muối không đủ. Các được liệt kê trong Bảng 42-3. Giảm cân do thuốc lợi tiểu nên giảm hạn chế từ 1–1.5 kg/ngày. Thêm thuốc lợi tiểu tác dụng lên ống lượn xa (“tiết kiệm kali”) hoặc metolazone cùng với thuốc lợi tiểu quai để nâng cao hiệu quả. Chú ý phù trong ruột làm giảm khả năng thuốc đường uống và giảm hiệu quả. Khi đã đạt được cân nặng theo ý muốn, nên giảm liều thuốc lợi tiểu.

Trong suy tim sung huyết (Chương 133), tránh dùng quá liều thuốc lợi tiểu vì có thể gây giảm cung lượng tim và tăng nitơ máu trước . Tránh dùng lợi tiểu giảm kali, vì có thể dẫn đến ngộ độc digitalis. Trong xơ và các khác gây phù, spironolactone là thuốc
lợi tiểu đầu tay nhưng có thể gây toan hoá và tăng kali máu. Cũng có thể bổ sung Thiazide và lợi tiểu quai liều thấp. Tuy nhiên, có thể gây do giảm thể tích. Quá liều thuốc lợi tiểu có thể dẫn đến , hạ kali máu và kiềm hoá máu, điều này làm cho não trầm trọng hơn (Chương 165).

Nguồn: Harrison Manual Medicine 18th

Tham khảo bản dịch của nhóm ” chia ca lâm sàng”

Advertisement

Giới thiệu tranphuong

Avatar

Like page Y lâm sàng để cập nhật những thông tin và bài viết mới nhất!

Check Also

[Sổ tay Harrison Số 163] Viêm gan cấp

VIÊM GAN VI RÚT Viêm gan virut cấp tính là một nhiễm trùng toàn thân …