[Vaccin Covid-19] Khi nào bệnh nhân đã mắc Covid-19 nên tiêm phòng?

Print Friendly, PDF & Email

Khi nào bệnh nhân đã mắc Covid-19 nên tiêm phòng?

TS.DS. Tạ Thanh Sơn
Những người chắc chắn đã bị nhiễm SARS-CoV-2 (phát hiện bằng PCR) ban đầu chỉ nên tiêm một liều vaccine. Ủy ban Tiêm chủng Thường trực của Đức (STIKO) thông báo rằng những bệnh nhân sau khi hồi phục sẽ phát triển “nồng độ kháng thể cao” sau một lần tiêm chủng, liều vắc-xin thứ hai cũng sẽ không thể tăng thêm được nồng độ kháng thể này. Lời khuyên này áp dụng cho những người có sức khỏe miễn dịch, bất kể tuổi tác, và ngay cả nếu thời điểm nhiễm bệnh là “rất lâu trước đây”. Hiện tại, chưa có thêm thông tin nào về việc có nên tiêm hay không và khi nào thì nên cho bệnh nhân đã mắc bệnh tiêm chủng mũi thứ hai. Ủy ban Tiêm chủng Thường trực của viện Robert Koch đã công bố những khuyến nghị này trên Bản tin Dịch tễ học vào đầu tháng Bảy.
TIÊM VẮC-XIN PHÒNG COVID-19 Ở PHỤ NỮ MANG THAI – NHỮNG BẰNG CHỨNG KHOA HỌC | Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Lạng Sơn

Trong trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch

Lời khuyên của STIKO chỉ áp dụng cho những người có hệ thống miễn dịch khỏe mạnh: nếu bị suy giảm miễn dịch, phải đưa ra quyết định dựa trên từng bệnh nhân về việc liệu một lần tiêm chủng duy nhất là đủ hoặc liệu có nên thực hiện tiêm vaccine hoàn chỉnh. Điều này phụ thuộc phần lớn vào loại và mức độ suy giảm miễn dịch.

Khi nào những người đã khỏi bệnh nên tiêm phòng?

Trong trường hợp nhiễm Covid 19 có triệu chứng được xác nhận, nên chủng ngừa liều vắc-xin cần thiết thường là sáu tháng sau khi nhiễm bệnh, vì các dữ liệu về lâm sàng và miễn dịch hiện có cho thấy tác dụng bảo vệ trong ít nhất sáu đến mười tháng sau khi SARS-CoV- 2 nhiễm trùng chiếm đóng. Đặc biệt trong những tháng đầu sau khi lây nhiễm, nguy cơ tái nhiễm là rất thấp. Tuy nhiên, nguy cơ này có thể tăng lên theo thời gian.

Nhiễm Covid 19 không triệu chứng có nên tiêm Vaccine?

Ngay cả khi đã xác nhận nhiễm SARS-CoV-2 không có triệu chứng, việc chủng ngừa có thể được tiến hành sớm nhất là bốn tuần sau khi chẩn đoán bệnh trong phòng thí nghiệm.

Nên tiêm vaccine nào?

Lợi ích thực sự của tiêm vaccine phòng COVID-19 là gì?
Theo Viện Robert Koch, bất kỳ loại vaccine corona nào đã được phê duyệt đều phù hợp để tiêm chủng COVID-19 cho những người đã khỏi bệnh. Điều cần được xem xét là các nhóm tuổi được chấp thuận – và các khuyến nghị của tổ chức y tế thế giới WHO.

Những người bị nhiễm SARS-CoV-2 nhưng không biết về sự lây nhiễm của mình thì phải làm gì?

Người tiêm phòng không bắt buộc thực hiện các xét nghiệm để chắc chắn rằng mình không bị bệnh trước khi thực hiện tiêm chủng COVID-19.
Các kết quả nghiên cứu từ Viện Robert Koch của Đức không ghi nhận bất kỳ rủi ro sức khỏe đối với trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 và tiêm chủng sau khi nhiễm bệnh. Trong các nghiên cứu phê duyệt để cấp phép cho vaccine mRNA cũng bao gồm những người tham gia đã từng bị nhiễm SARS-CoV-2. Và kết quả không cho thấy sự khác biệt về các tác dụng phụ mắc phải của nhóm người đã có tiền sử bị bệnh và nhóm không có bệnh. Trong một số trường hợp, các phản ứng tại chỗ và toàn thân sau khi tiêm chủng thậm chí còn tốt hơn. Về hiệu quả tiêm chủng, kết quả các nghiên cứu cũng không cho thấy bất kỳ sự khác biệt nào cho dù đã nhiễm SARS-CoV-2 hay chưa. Hiệu quả của việc chủng ngừa không khác nhau nếu đã xảy ra nhiễm SARS-CoV-2.
Advertisement

Bạn nên làm gì nếu bị nhiễm SARS-CoV-2 sau liều chủng ngừa đầu tiên?

Trong sáu tháng sau khi nhiễm bệnh thì hệ miễn dịch của bạn đủ sức đề kháng để chống lại virus. Tuy nhiên, nồng độ kháng thể sẽ giảm xuống và sức đề kháng sau đó sẽ yếu đi dần. Do đó, Ủy ban Tiêm chủng Thường trực của Đức (STIKO) khuyên nên hoàn thành việc bảo vệ bằng mũi tiêm vaccine thứ hai trong vòng sáu tháng từ sau khi nhiễm bệnh.
Cảm ơn tác giả TS.DS. Tạ Thanh Sơn đã chia sẻ nội dung này trên Diễn đàn Y Khoa!
Nguồn:TS.DS. Tạ Thanh Sơn
Advertisement

Giới thiệu TrangSky

Check Also

[Cấp cứu] Phương pháp tiếp cận LƠ MƠ VÀ HÔN MÊ tại cấp cứu và ICU (Phần 1)

Phương pháp tiếp cận LƠ MƠ VÀ HÔN MÊ tại cấp cứu và ICU — …