[Vi sinh lâm sàng 18] Kháng sinh ức chế Ribosom

Advertisement

Tất cả tế bào đều phải phụ thuộc vào sự sản xuất liên tục của các protein để phát triển và tồn tại. Quá trình dịch mã mARN thành các chuỗi polypeptid để tạo ra những protein này thì yêu cầu cần phải sử dụng ribosom. Những loại kháng sinh ức chế hoạt động ribosom sẽ ức chế sự phát triển và tồn tại của tế bào. Vì chúng ta chỉ muốn ức chế sự phát triển của các tế bào của vi khuẩn gây bệnh và không làm ảnh hưởng các tế bào của chúng ta, chúng ta thật may mắn khi mà vi khuẩn có một loại ribosom hoàn toàn khác so với chúng ta. Chúng ta có thể khai thác điểm khác biệt này để gây ức chế đặc hiệu ribosom của vi khuẩn, trong khi không làm ảnh hưởng gì đến ribosom của chúng ta. Ribosom của vi khuẩn có kích thước nhỏ hơn của chúng ta. Trong khi chúng ta có tiểu phần (particle) 80S thì ribosom vi khuẩn lại chứa tiểu phần 70S và tiểu phần 70S có 2 tiểu đơn vị (subunit): 50S (lớn) và 30S (nhỏ). (Ngạc nhiên thật, 50S + 30S = 70S).

18.1. Ribosom của vi khuẩn.

Có 5 loại kháng sinh quan trọng gây ức chế chức năng ribosom của vi khuẩn. 3 trong số 5 loại đó gây ức chế tiểu đơn vị lớn 50S và 2 loại còn lại thì gây ức chế tiểu đơn vị nhỏ 30S.

Đây là cách giúp bạn có thể nhớ được 5 loại kháng sinh này:

18.2. Hình dung ribosom là một cái đĩa nhà (home plate) và có cầu thủ bóng chày đang trượt đến nhà. Trái bóng đã bị chặn lại bởi cầu thủ bắt bóng, người giữ sạch (CLEan) căn cứ (TAG) và cho cầu thủ đối phương bị loại!!! Ở đây, từ CLEan TAG sẽ giúp bạn ghi nhớ được:

C trong Chloramphenicol và Clindamycin
L trong Linezolid

E trong Erythromycin
T trong Tetracyclin và Tigecyclin
AG trong Aminoglycosid

Chú ý là từ CLEan nằm phía bên trên căn cứ và từ TAG nằm phía bên dưới. Điều này tương ứng tiểu đơn vị ribosom mà các loại thuốc kháng sinh này gây ức chế: CLEan ức chế 50S; TAG ức chế 30S.

18.3. Để nhớ được những loại thuốc được thu qua đường uống, chúng ta vẽ những ô vuông bao xung quanh CLEan TAG nằm trên ribosom. Cần chú ý là những ô vuông này không mở rộng qua nhóm aminoglycosid (AG). Bây giờ chúng ta vẽ một cái bánh bị mất đi góc một phần tư tương ứng với chỗ bị mất ở phía trên. Bạn có thể ăn ba phần tư còn lại của cái bánh (nhớ là cho tôi một phần). Phần thứ 4 (tượng trưng cho góc một phần tư aminoglycosid) bị mất đi, vì đây là một loại kháng sinh chống ribosom không thể hấp thu được qua đường uống. Aminoglycosid phải được cho chỉ định IM hay IV trong việc điều trị nhiễm khuẩn toàn thân. (Tigecyclin, một chất dẫn xuất mới nhất của tetracyclin, cũng chỉ có hiệu quả khi sử dụng theo đường IV).

CHLORAMPHENICOL (“Khí Clo”)

Đây là loại thuốc có phổ tác dụng đáng kinh ngạc. Nó là một trong số ít các loại thuốc (như là Imipenem) có khả năng tiêu diệt hầu như những loại vi khuẩn quan trọng trong lâm sàng. Nó giống như việc đổ “clo” lên các vi sinh vật. Gram dương, Gram âm và cả vi khuẩn yếm khí đều bị nhạy cảm với kháng sinh này. Và đây là một trong số ít các loại kháng sinh có thể tiêu diệt được vi khuẩn yếm khí Bacteroides fragilis.

Sử Dụng Trong Lâm Sàng

Bởi vì tác dụng phụ của thuốc này hiếm xảy ra nhưng mang tính nghiêm trọng, nếu không có cách nào khác thì loại thuốc tuyệt vời này chỉ nên được sử dụng khi không còn loại thuốc nào để thay thế, và do lợi ích vượt xa những rủi ro nên là:

1) Nó được sử dụng để điều trị viêm màng não do nhiễm khuẩn, khi mà ta vẫn chưa biết đó là loại vi khuẩn nào và bệnh nhân bị dị ứng nặng với penicillin, bao gồm với cả nhóm cephalosporin. Với phổ tác dụng rộng của chloramphenicol và khả năng xâm nhập tốt vào dịch não tủy sẽ bảo vệ bệnh nhân khỏi những hậu quả nặng nề do viêm màng não gây ra.

2) Trẻ em và phụ nữ có thai mắc sốt đốm Rocky Mountain không thể điều trị bằng tetracyclin do những tác dụng phụ của nó được thảo luận ở trang xxx. Khi đó, chloramphenicol trở thành một sự lựa chọn ưu tiên.

Chú ý: Ở các quốc gia kém phát triển thì loại thuốc này được sử dụng rất rộng rãi.

Tác Dụng Phụ

18.4. Hình ảnh về một thùng dung dịch chloramphenicol clo. Bây giờ dung dịch clo đang rót xuống thân của một cái xương đài. Bạn cũng có thể tưởng tượng đó là tủy xương sẽ bị hòa tan. Loại thuốc này nổi tiếng vì gây ra 2 loại chứng suy tủy xương (bone marrow depression). Loại thứ nhất có liên quan đến liều lượng và có thể hồi phục, và chỉ gây ra thiếu máu (anemia). Loại thứ hai là gây phá hủy hoàn toàn tủy xương mà không thể hồi phục được và thường gây ra tử vong. Loại này được gọi là chứng thiếu máu bất sản (aplastic anemia). Chứng thiếu máu bất sản do chloramphenicol gây ra là một điều vô cùng hiếm gặp, chỉ xảy ra với tỷ lệ từ 1:24.000 đến 1:40.000 ở những người sử dụng thuốc.

18.5. Bây giờ là hình ảnh về một đứa bé nhảy vào một hồ bơi vừa mới được khử trùng nước bằng clo. Đứa bé này bò ra khỏi hồ bơi và đã bị nước clo làm cho màu da của đứa bé thành màu xám (Hội Chứng Xám Ở Trẻ Em). Ở trẻ sơ sinh, nhất là những trẻ sinh thiếu tháng, không thể liên hợp hết toàn bộ chloramphenicol ở gan hay bài xuất chúng qua thận, dẫn đến sự gia tăng nồng độ ở trong máu. Độc tố gây ra suy sụp vận mạch (vasomotor collapse) (trong sốc), trướng bụng và chứng xanh tím (cyanosis), có biểu hiện như màu xám tro (ashen gray).

CLINDAMYCIN

Sử Dụng Trong Lâm Sàng

Đây là loại thuốc kháng sinh KHÔNG có hiệu quả trong việc chống lại những vi khuẩn Gram âm. Vậy thì nó hiệu quả cho cái gì? Rất nhiều vi khuẩn Gram dương bị ức chế. Gì nữa đây? Thế này là sao?!!!?

Nhiễm khuẩn yếm khí! Đây là một số ít những loại kháng sinh hiếm hoi có phổ tác dụng lên những vi khuẩn yếm khí (bao gồm cả Bacteroides fragilis). Những nhà phẫu thuật sử dụng clindamycin cùng với nhóm aminoglycosid trong nhiễm khuẩn vết thương xâm nhiễm ở bụng, có thể xảy ra do chấn thương bởi đạn hoặc dao. Một khi đường tiêu hóa bị thủng thì nó sẽ gây phát tán các vi khuẩn Gram âm và vi khuẩn yếm khí cư trú trong đường tiêu hóa vào ổ phúc mạc vô khuẩn. Aminoglycosid có phổ tác dụng lên vi khuẩn Gram âm hiếu khí và clindamycin thì có phổ tác dụng lên vi khuẩn yếm khí.

Clindamycin còn được sử dụng trong nhiễm khuẩn đường sinh dục nữ, chẳng hạn như nhiễm khuẩn do phá thai, do có rất nhiều vi khuẩn yếm khí cư trú ở đó. Clindamycin dạng uống và dạng bôi âm đạo là sự lựa chọn thay thế cho metronidazole trong việc điều trị viêm âm đạo do nhiễm khuẩn. (bacterial vaginosis). Liệu pháp clindamycin bôi tại chỗ cũng rất hữu ích cho điều trị mụn trứng cá (acne vulgaris) và chứng đỏ mặt (nổi mụn ở tuổi trưởng thành).

Clindamycin thường sử dụng cùng với một nhóm beta – lactam (như là penicillin) hoặc vancomycin để điều trị hội chứng sốc nhiễm độc có liên quan đến Streptococcus tan huyết beta nhóm A hoặc Staphylococcus aureus. Bằng việc ức chế lên ribosom và protein vận chuyển, clindamycin có thể ức chế sự sản xuất độc tố, từ đó làm giảm mức độ nghiêm trọng đang đe dọa tính mạng trên lâm sàng.

Clindamycin còn trở thành loại thuốc ưu tiên trong nhiễm khuẩn da và mô mềm không biến chứng ở những nơi có tỷ lệ cao về nhiễm khuẩn Streptococcus tan huyết beta nhóm A và Staphylococcus aureus. Hiện nay, chúng đều thấy hầu hết những nhiễm khuẩn da và mô mềm mắc phải ở cộng đồng đều do CA – MRSA gây ra và chúng thì lại thường hay nhạy cảm với clindamycin.

Clindamycin thường được chỉ định bằng đường uống trong vài tháng cho những bệnh nhân ngoại trú có tiến triển viêm phổi do hít phải. Ở những người nghiện rượu có chứng động kinh và viêm phổi do hít phải có thể phát triển một abscess phổi đa khuẩn (polymicrobial lung abscess). Chính khối abscess này sẽ ăn mòn chậm dần vào trong phổi để tạo ra một hang phổi. Những bệnh nhân này có thể có những biểu hiện như sụt cân, sốt nhẹ mạn tính, đổ mồ hôi ban đêm và khạc ra đàm có mùi hôi.

Liên Hệ Lâm Sàng: Phổi là cơ quan duy nhất có thể chứa một khối abscess mà không cần phẫu thuật dẫn lưu. Điều trị kéo dài với Clindamycin hoặc với các loại kháng sinh khác có phổ tác dụng lên vi khuẩn yếm khí (xem Mục 17.16) sẽ giúp đạt được hiệu quả mong muốn.

Tác Dụng Phụ

Bạn phải biết một điều rằng: Clindamycin có thể gây ra Viêm Đại Tràng Giả Mạc!!!!!

Khi bạn chỉ định clindamycin cho bệnh nhân hay loại kháng sinh mạnh khác để giải quyết vấn đề, nó sẽ phá hủy hệ vi khuẩn chí (natural flora) của đường tiêu hóa. Clostridium difficile, nếu có đề kháng với clindamycin, sẽ phát triển mạnh mẽ và giải phóng ra ngoại độc tố vào đại tràng. Ngoại độc tố này gây chết tế bào biểu mô và làm loét đại tràng, vét loét này được bao phủ bởi lớp màng nhầy xuất tiết (exudative membrane); do đó có tên gọi là viêm đại tràng giả mạc. Những bệnh nhân này thường có biểu hiện tiêu chảy cấp tính. Nuôi cấy phân hoặc đo nồng độ độc tố của Clostridium difficile tìm thấy trong phân có thể giúp củng cố thêm chẩn đoán.

Chú ý: Trong khi clindamycin được xác nhận đầu tiên như là nguyên nhân của viêm đại tràng giả mạc, thì điều đáng lưu tâm là các loại kháng sinh khác cũng gây ra tình trạng này. Thực tế hiện nay thì hầu hết các trường hợp được gây ra bởi những loại thuốc kháng sinh họ penicillin bởi vì chúng được chỉ định thường xuyên hơn.

Để điều trị viêm đại tràng giả mạc, bạn phải chỉ định vancomycin hoặc metronidazole đường uống. Vancomycin đi qua đường tiêu hóa và không bị hấp thu, nên có vẫn giữ được nồng độ cao khi tới đại tràng. Với nồng độ cao như vậy nên kháng sinh có thể lấn át và tiêu diệt được Clostridium difficile. Metronidazole ít gây tốn kém hơn và hiện nay là loại thuốc được ưu tiên hơn, bởi vì khi sử dụng vancomycin đường uống có thể góp phần vào việc gia tăng họ vi khuẩn đường ruột kháng vancomycin!

Một chủng sinh độc tố cao của Clostridium difficile đã được xác định vào năm 2005 khi ghi nhận các trường hợp ở Canada và một số bang ở Mỹ. Chủng này sản xuất ra một lượng cao độc tố nên làm tăng cao tỷ lệ mắc bệnh và tử vong hơn so với trong quá khứ. Một số bệnh nhân phát bệnh mà không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào (nhập viện gần đây, các loại kháng sinh mới sử dụng gần đây…).

18.6. Tưởng tượng một chiếc ô tô Van (VAN trong vancomycin) và một chiếc tàu điện (METRO trong metronidazole) đang chạy xuống đường tiêu hóa. Chúng chạy ra những cái ổ loét của viêm đại tràng giả mạc và tiêu diệt tên “tội phạm” Clostridium difficile.

LINEZOLID (“Thằn Lằn Godzilla”)

Linezolid, thằn lằn Godzilla, là một loại thuốc kháng sinh mới trong việc tiêu tiêu diệt vi khuẩn Gram dương đề kháng thuốc. Linezolid ức chế tiểu đơn vị 50S của ribosom nên có tác dụng chống lại vi khuẩn Gram dương bao gồm cả những loại kháng kháng sinh khác. Linezolid thường được sử dụng chung với nhóm beta – lactam phổ rộng trong điều trị viêm phổi bệnh viện theo kinh nghiệm và trong các nhiễm khuẩn Staphylococcus aureus đã được kiểm chứng, bao gồm cả Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA). Linezolid cũng có tác dụng chống lại Enterococcus Kháng Vancomycin (VRE). Linezolid có hiệu quả ở cả đường IV và đường uống, trái ngược với vancomycin, là chỉ sử dụng đường IV, do đó làm cho chúng trở thành một sự lựa chọn ưu tiên trong điều trị tại nhà để điều trị nhiễm khuẩn MRSA.

Tác Dụng Phụ

Tác dụng phụ chủ yếu của Linezolid là gây thiệt hại cho cái ví tiền của bạn!!! Nó cực kỳ đắt tiền (giá bán lẻ thuốc này hiện nay là 21.000đ/viên1). Linezolid còn có thể ảnh hưởng đến tủy xương, bao gồm giảm tiểu cầu, thiếu máu và giảm bạch cầu. Các tác dụng phụ đau đầu và kích thích đường tiêu hóa cũng thường được được báo cáo. Linezolid có thể thúc đẩy thêm các triệu chứng của hội chứng serotonin (một phản ứng thuốc có khả năng đe dọa tính mạng) nếu được sử dụng chung với các thuốc chống trầm cảm SSRI hay các thuốc ức chế MAO. Tránh sử dụng trên những bệnh nhân sử dụng thuốc chống trầm cảm.

MACROLID và KETOLID

Phân nhóm kháng sinh này bao gồm erythromycin (“A Wreath2”), azithromycin, clarithromycin và một loại mới hơn, telithromycin (thực ra nó là một ketolid), tất cả đều gây ức chế chức năng ribosom của vi khuẩn tại tiểu đơn vị 50S. Nhìn chung các thuốc ở phân nhóm này đều được dung nạp tốt và có phổ tác dụng rộng để chống lại vi khuẩn Gram dương, một vài vi khuẩn Gram âm và vi khuẩn gây bệnh “không điển hình” như là Legionella, Chlamydia pneumoniae và Mycoplasma.

Erythromycin, trước đây là loại thuốc được lựa chọn để điều trị cho bệnh nhân ngoại trú mắc viêm phổi mắc phải ở cộng đồng, phần lớn vai trò này đã được thay thế bằng azithromycin, clarithromycin và hiện nay là telithromycinm, tất cả đều được hấp thu tốt qua đường uống và có ít các tác dụng phụ.

Erythromycin, azithromycin và clarithromycin thường được sử dụng như là liệu pháp thứ 2 trong các nhiễm khuẩn da và mô mềm không do Staphylococcus aureus Kháng Methicillin (MRSA). Chúng còn thường được sử dụng trong nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (viêm xoang, viêm tai giữa và viêm phế quản) và trong việc tác dụng lên những vi khuẩn gây bệnh “không điển hình” như là Legionella, Chlamydia pneumoniae và Mycoplasma, những vi khuẩn này đều có liên quan đến viêm phổi mắc phải ở cộng đồng. Azithromycin được bán trong một “Z – pack3” mà bạn rồi sẽ chắc chắn được thấy nếu bạn có bất kỳ sự tiếp xúc nào với bệnh nhân! Streptococcus pneumoniae đang ngày càng trở nên đề kháng nhiều hơn với nhóm macrolid thế hệ thứ nhất và thứ hai (erythromycin, azithromycin và clarithromycin). Azithromycin còn được sử dụng như là một sự thay thế trong điều trị bệnh giang mai, nhưng sự đề kháng với kháng sinh này đang nổi lên nhanh chóng. Kháng sinh Azithromycin và clarithromycin đều được sử dụng để điều trị và phòng ngừa nhiễm Mycobacteria không điển hình.

Telithromycin, một loại mới trong nhóm macrolid, có phổ tác dụng như những những kháng sinh macrolid đời cũ khác, nhưng nó có tác dụng hiệu quả trong việc chống lại hầu hết chủng Streptococcus pneumoniae kháng macrolid. Tránh sử dụng Telithromycin ở những bệnh nhân bị bệnh nhược cơ (myasthenia gravis), vì họ có thể tiến triển cơn suy hô hấp cấp tính. Mới đây loại kháng sinh này đã nhận được một “cảnh báo hộp đen” (black box warning) do biến chứng này. Hãy tưởng tượng một người bị sụp mi do bệnh nhược cơ. Mi mắt anh ta sụp đến nỗi anh ta không thể nào “TELL IF you THROw a ball at him”. Sự lo sợ của bạn làm cho anh ta “quá đỗi ngạc nhiên”. (được thuật lại từ Dr. Michael Waring).

Tác Dụng Phụ

Macrolid là một trong những loại an toàn; nghĩ về một vòng hoa xinh xắn (erythromycin) so với chất clo khó chịu (chloramphenicol). Một số ít tác dụng phụ bao gồm:

1) Đau bụng thông thường (kích thích đường tiêu hóa) do làm tăng nhu động ruột, trong số đó thì erythromycin là một “tên tội phạm” tồi tệ nhất. Nhưng trong thực tế, erythromycin lại được cố ý chỉ định cho những bệnh nhân có chứng rối loạn dạ dày (gastric dysmotility) (chẳng hạn như liệt nhẹ dạ dày do đái tháo đường) do khả năng kích thích nhu động ruột của nó.

2) Viêm gan ứ mật (cholestatic hepatitis). Hãy tưởng tượng một vòng hoa đang trôi dạt vào ống mật và làm bít tắc dòng chảy.

3) Hội chứng QT kéo dài (chủ yếu là do erythromycin). Bạn phải thật sự cẩn thận khi kê đơn thuốc này cho bệnh nhân có tiền sử có chứng rối loạn nhịp tim.

18.7. Trước đây, erythromycin từng là loại thuốc được lựa chọn trong bệnh lý Legionnaire. (Nó đã được thay thế bằng azithromycin và một loại fluoroquinolon thế hệ mới). Một anh hùng của binh đoàn lê dương Pháp đã hy sinh trong một trận chiến. Để vinh quang ông, một vòng hoa (wreath) đã được đặt lên ngôi mộ của ông. Hãy chú ý là cái bia đá có hình dấu cộng để giúp bạn nhớ rằng erythromycin có phổ tác dụng lên vi khuẩn Gram dương (và đừng có quên đi những vi không điển hình! Gợi ý từ Dr. Cornejo, Đại học Colorado).

Advertisement

TETRACYCLIN/DOXYCYCLIN (“Phản công Tết Mậu Thân”)

Phức chất vòng càng (chelate) tetracyclin có các cation ở trong sữa và các sản phẩm từ sữa , aluminum, hydroxid, Ca++ và Mg++. Khi nó được chelate hóa, nó sẽ đi qua đường ruột mà không bị hấp thu. Doxycyclin là một tetracyclin, đây là những cation vòng càng (chelate cation) kém bền nên chúng được hấp thụ tốt cùng với thức ăn. IV tetracyclin không còn được sử dụng.

Sử Dụng Doxycyclin Trên Lâm Sàng

Đây là loại thuốc kháng được sử dụng cho tất các bệnh lý mà bạn cho là người lính trẻ đó đã mắc phải trong cuộc phản công Tết (trong từ Tetracyclin) Mậu Thân do việc bò lết xung quanh khu rừng cũng như việc ngụy trang trong các khóm lá cây mà ra:

1) Bệnh hoa liễu được gây ra bởi Chlamydia trachomatis.

2) Viêm phổi thoáng qua được gây ra bởi Mycoplasma pneumoniae (được sử dụng như là một sự thay thế cho erythromycin).

3) Các bệnh lý do động vật và ve truyền được gây ra bởi Brucella và Rickettsia (nhìn con ve đang bò trên cái quần dài của người lính ở Mục 18.8)

4) Doxycyclin còn có tác dụng đáng ngạc nhiên trong điều trị mụn trứng cá.

Tác Dụng Phụ

18.8. Hình ảnh về một người lính Việt Minh có liên quan đến cuộc phản công Tết Mậu Thân (Tet offensive) sẽ giúp bạn nhớ được những tác dụng phụ quan trọng:
1) Người lính này đang rất lo lắng khi mà làn sóng hỏa lực thế kỷ 20th của Mỹ đang tràn vào cuộc phản công Tết Mậu Thân. Nên anh ta có các triệu chứng kích thích đường tiêu hóa như là buồn nôn, nôn mửa và tiêu chảy. Đây là tác dụng phụ thường rất hay gặp.

2) Một quả lựu đạn nổ tung gần anh ta, làm cho da anh ta giống như bị cháy nắng. Chú ý các  tia sáng từ vụ nổ đang chiếu lên khuôn mặt của anh ta. Viêm da do ánh nắng (Phototoxic dermatitis) là một tình trạng viêm da do tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.

3) Những mảnh đạn bay trúng vào thận và gan của anh ta: độc tính lên gan và thận. Tác dụng phụ này hiếm gặp và thường xảy ra ở phụ nữ đang mang thai được chỉ định tiêm tĩnh mạch với liều lượng cao.

4) Hãy chú ý về những chiếc răng của người lính bị biến đổi thành màu đen. Loại thuốc này sẽ tạo chelat (hay tạo càng) với canxi ở trong răng và xương của trẻ sơ sinh và trẻ dưới 7 tuổi, làm cho răng bị úa màu và xương chậm phát triển. Không chỉ định loại thuốc này cho phụ nữ đang mang thai hoặc trẻ em, nếu không thì sẽ giống với những chiếc răng của người lính đó.

TIGECYCLIN

Đây là dẫn xuất của tetracyclin, là loại kháng đầu tiên thuộc phân nhóm của các kháng sinh mới, nhóm glycycline, có phổ tác dụng tương tự như nhóm tetracyclin, nhưng có khuynh hướng chung là làm giảm sự đề kháng thuốc. Tigecyclin chỉ có hiệu quả ở đường IV và hiện tại được bán trên thị trường để sử dụng trong các nhiễm khuẩn da và mô mêm phức tạp và trong điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm về các nhiễm khuẩn bên trong ổ bụng. Nó có tác dụng chống lại MRSA và VRE. Tác dụng phụ chủ yếu của nó là gây khó chịu đường tiêu hóa (rất hay gặp!). Vào cuối năm 2010, FDA đã công bố thông tin về độ an toàn của loại thuốc này về sự gia tăng tỷ lệ tử vong liên quan đến việc sử dụng tigecyclin so với các loại thuốc kháng sinh khác để điều trị một loại các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng. Các cảnh báo mang tính mơ hồ này có nghĩa là “tôi không chắc chắn”, nhưng nó muốn ám chỉ tôi rằng nên thay thế các loại kháng sinh khác khi có thể.

AMINOGLYCOSID (A Mean Guy)

Nhóm aminoglycosid phải được khuếch tán qua vách tế bào để vào bên trong tế bào của vi khuẩn, cho nên chúng thường được sử dụng chung với penicillin, là chất có thể phá vỡ được lớp vách này để tạo điều kiện thuận lợi cho việc khuếch tán.

Sử Dụng Trong Lâm Sàng

Nhìn chung, nhóm aminoglycosid tiêu diệt được các vi khuẩn đường ruột hiếu khí Gram âm (những vi khuẩn đường ruột này xem đường tiêu hóa như là nơi cư trú, ví dụ: E. coli và đồng bọn). Nhóm aminoglycosid là một trong số ít các loại thuốc kháng sinh có thể tiêu diệt được vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa khủng khiếp!!!

Hầu hết tên gọi các thuốc kháng sinh trong nhóm aminoglycosid đều kết thúc bằng từ -mycin:

1) Streptomycin là loại lâu đời nhất trong nhóm này. Có rất nhiều vi khuẩn đã đề kháng với chúng

2) Gentamycin là loại kháng sinh được sử dụng thường xuyên nhất trong tất cả các thuốc kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid. Chúng được kết hợp với nhóm penicillin để điều trị nhiễm khuẩn bệnh viện. Cũng có rất nhiều chủng vi khuẩn đề kháng với loại kháng sinh này.

3) Tobramycin có tác dụng rất tốt để chống lại vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa khó trị.

4) Amikacin không kết thúc bằng từ mycin (xin lỗi). Có lẽ chúng là một ngoại lệ. Chúng có phổ tác dụng rất rộng và rất hiệu quả để điều trị các nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện (nhiễm khuẩn bệnh viện), khi mà chúng đã phát triển khả năng đề kháng với các loại thuốc kháng sinh khác trong quãng thời gian cư trú ở bệnh viện.

5) Neomycin có phổ tác dụng rất rộng nhưng độc hại, vì vậy chúng chỉ có thể được sử dụng trong các nhiễm khuẩn da tại chỗ.

6) Netilmicin được sử dụng để phòng ngừa nhiễm khuẩn trước khi phẫu thuật đường tiêu hóa. Loại thuốc này được cho chỉ định uống trước khi phẫu thuật đường tiêu hóa. Nó đi tới đường tiêu hóa, mà không sợ bị hấp thu, để tiêu diệt các vi khuẩn cư ngụ tại nơi đó. Chính điều này làm ngăn cản sự xâm nhiễm của vi khuẩn vào bên trong ổ phúc mạc vô khuẩn trong lúc phẫu thuật.

 

Tác Dụng Phụ

Dưới đây là cách làm thế nào để chúng ta nhớ được các tác dụng phụ: Hình ảnh về một võ sĩ to con, a mean guy (nhóm Aminoglycosid) và bây giờ ta cùng xem xét bức tranh này:

18.9. Ở vòng thứ tám (eighth), A MEAN GUY tung một cú đấm trời giáng vào tai đối thủ của anh ta, làm cho anh ta mất cân bằng,tai ù và choáng váng mặt mày (độc tính lên thần kinh số tám: chóng mặt, mất thính lực). Sự mất thính lực thường không hồi phục.

18.10. Khi đối thủ của anh ta mất thăng bằng, A mean guy tung một cú đấm móc chết người bằng tay trái vào hông phải của đối thủ, làm nghiền nát quả thận của anh ta (độc tính lên thận). Nhóm aminoglycosid được chuyển hóa qua thận và có thể gây tổn thượng cho thận. Điều này có thể phục hồi được, vì vậy phải luôn theo dõi nồng độ BUN (blood urea nitrogen) và creatinin của bệnh nhân, những chỉ số này gia tăng khi có tổn thương thận.

18.11. Đối thủ quỵ ngã trên sàn thi đấu, ám chỉ sự bất tỉnh do phong bế thần kinh cơ (neuromuscular blockade) hoàn toàn, không thể cử động cơ hoặc thậm chí là thở. Tác dụng giống như nhựa độc cura (curare-like) này rất hiếm khi xảy ra.

Chú ý: Các tác dụng phụ này sẽ xảy ra khi liều sử dụng quá cao, nên khi sử dụng chúng trong bệnh viện, nồng độ thuốc trong máu phải được cho kiểm tra (thường là sau liều thứ 3) sau khi bệnh nhân đã có được mức độ trạng thái ổn định. Với nồng độ thích hợp ở trong máu, thì các loại thuốc này nhìn chung là an toàn.

 

QUINUPRISTIN/DALFOPRISTIN

Quinupristin/dalfopristin là một loại kháng sinh lâu đời trong phân nhóm streptogramin, nó đã mở ra một cuộc sống mới khi gần đây đã xuất hiện nhiều loại vi khẩn đề kháng thuốc. Nó ức chế sự tổng hợp protein của vi khuẩn bằng cách liên kết với tiểu đơn vị 50S. Đây là một loại thuốc khá “khó tính” và chỉ nên dùng khi thật sự cần thiết.

Quinupristin/dalfopristin có tác dụng chủ yếu lên vi khuẩn Gram dương. Nó được sử dụng chủ yếu trong các nhiễm khuẩn đang đe dọa tính mạng trong nhiễm khuẩn do Enterococcus faecium Kháng Vancomycin (VRE), nhưng không phải do Enterococcus faecalis Kháng Vancomycin. (UM, for faeci UM, yes, IS, for faecal IS, no!!). Nó còn được sử dụng trong các nhiễm khuẩn da phức tạp do Staphylococcus aureus (bao gồm cả MRSA) và Streptococcus nhóm A gây ra.

Hãy nhớ rằng chúng ta đã có nói nó là một loại thuốc khá “khó tính”…các tác dụng phụ thường rất hay gặp, bao gồm như tăng bilirubin máu (3 – 35%), đau nhức tại nơi tiêm thuốc (~40%) và đau khớp/đau cơ (~40%). Về cơ bản, hãy giữ lại loại thuốc này cho đến khi bạn không
còn một sự lựa chọn nào khác.

 

SPECTINOMYCIN

Loại thuốc kháng sinh này có tên gọi nghe có vẻ giống như aminoglycosid, nhưng nó lại có cấu trúc và hoạt tính sinh học hoàn toàn khác. Cơ chế của nó tác động tương tự lên tiểu đơn vị 30S của ribosom để gây ức chế sự tổng hợp protein, nhưng chính xác là như thế nào thì vẫn chưa được rõ. Hãy nhớ nhóm này cùng với nhóm aminoglycosid trong mục gợi ý CLEan TAG (xem Mục 18.2) để ghi nhớ tác dụng của chúng, nhưng cần chú ý chúng KHÔNG phải là một aminoglycosid. Nó được cho chỉ định bằng đường IM.

Sử Dụng Trong Lâm Sàng

Spectomycin được sử dụng để điều trị bệnh lậu, được gây ra bởi Neisseria gonorrhoeae, như là một sự thay thế cho penicillin và tetracyclin (doxycyclin), khi mà đã có rất nhiều chủng vi khuẩn đề kháng với các loại kháng sinh này.

18.12. Mr. Gonorrhoeae, đề kháng với penicillin và tetracyclin.

18.13. Spectomycin dùng để điều trị Neisseria gonorrhoeae kháng thuốc.

Hãy cùng nhìn lại phần tóm tắt về sự điều trị bệnh viêm niệu đạo do lậu cầu dưới đây, vì điều này sẽ kết hợp với nhiều loại thuốc khác nhau mà chúng ta đã được thảo luận. Một bệnh nhân có cảm giác nóng rát khi đi tiểu và chảy dịch mủ từ dương vật. Khi bạn nhuộm Gram từ dịch tiết của bệnh nhân, thấy có song cầu màu đỏ (Gram âm) có kích thước rất nhỏ và có dạng hình quả thận nằm ở bên trong hồng cầu. Giờ thì sao? Có rất nhiều Neisseria sản xuất ra penicillinase, nhưng bạn vẫn có một vài loại kháng sinh để mà lựa chọn:

1) Ceftriaxon (một loại cephalosporin thế hệ thứ 3): Cho ngay một phát IM vào mông! Ngoài ra chỉ thêm azithromycin 1mg đường uống để tạo “combat” chống lại sự phát triển của chủng gonorrhoeae (lậu cầu) đề kháng cephalosporin trong bệnh lậu và để tiêu diệt Chlamydia trachomatis đang ẩn mình phía sau đó trong khoảng 50% các trường hợp viêm niệu đạo. Bảy ngày sử dụng doxycyclin như là một sự thay thế azithromycin. Hoặc:

2) Spectinomycin: Cho ngay một phát vào mông! (cùng với doxycyclin trong điều trị Chlamydia).

Tác Dụng Phụ

Ít khi xảy ra và không quan trọng. Spectomycin KHÔNG gây độc tính cho tiền đình, ốc tai và thận mà nhóm aminoglycosid gây nên.

18.14. Bảng Tóm Tắt Kháng Sinh Ức Chế Ribosom

 

Bài viết được dịch từ sách ” Clinical Microbiology made ridiculously simple 

Xem tất cả bài biết Vi sinh lâm sàng tại: https://ykhoa.org/category/khoa-hoc/vi-sinh-lam-sang/

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu Lê Minh Thư

Check Also

[ Bệnh học tim mạch 12 ] – Sa van hai lá (Hội chứng Barlow)

Advertisement Định nghĩa sa van hai lá Sa van hai lá được định nghĩa là …