[Xét nghiệm 58] Hormon kích thích tuyến giáp (TSH)

Advertisement

HORMON KÍCH THÍCH  TUYẾN GIÁP (TSH)

(Thyreostimuline Hypophysaire / Thyroid – Stimulating Hormone, Thyrotropin) 

 

NHẮC LẠI SINH LÝ

TSH (Hormon kích thích tuyến giáp [Thyroid Stimulating Hormone]) là một glycoprotein có TLPT 28.000 dalton do thùy trước tuyến yên tiết ra dưới sự kiểm soát của một hormon của vùng dưới đồi (TRH). Khi nồng độ hormon giáp trong dòng tuần hoàn giảm xuống hay khi cơ thể phải đương đầu với tình trạng stress thực thể hay tâm thần, vùng dưới đồi bị kích thích để giải phóng ra hormon gây giải phóng hormon hướng tuyến giáp (thyrotropin – releasing hormone [TRH]). Khi được tiết ra, TRH sẽ kích thích thùy trước tuyến yên sản xuất hormone kích thích tuyến giáp (TSH). Sau đó TSH kích thích sản xuất và giải phóng triiodothyronin (T3) và thyroxin (T4). Nếu nồng độ T3 và T4 tự do trong máu tăng lên, tuyến yên bi jkisch thích để làm giảm sản xuất TSH thông qua cơ chế điều hòa ngược (feedback âm tính).

Hormone kích thích tuyến giáp (TSH) bao gồm 2 chuỗi peptid alpha và beta và một nhóm hydrocarbon. TRình tự các acid amin của chuỗi nhỏ alpha (sous unite alpha) giống hệt nhau của TSH, FSH, LH, HCG vì vậy có thể gặp các phản ứng chéo ở phụ nữ sau tuổi mãn kinh. Trái lại, trình tự các acid amin của chuỗi nhỏ beta (sous – unite beta) và các nhóm hydrocarbon của các hormon tuyến yên khác biệt nhau, vì vậy đảm bảo tính đặc hiệu hormone và miễn dịch học.

Dự trữ TSH của tuyến yên được ước tính là 4 UI. TSH hàng ngày được bài xuất vào khoảng 165 μUI với thời gian bán hủy là 50 phút. Hormon này được thải trừ chủ yếu qua đường thận dưới dạng bất hoạt.

Vị trí tác động của TSH là ở tuyến giáp. Nó được cố định trên các thụ thể của các tế bào tuyến giáp và có khả năng làm tăng:

  • Tình trạng phân bó mạch và kích thước tuyến giáp
  • Tình trạng bắt giữ iod của tuyến giáp
  • Tổng hợp các thyroglobulin
  • Tổng hợp và giải phóng các triiodothyronin (T3) và thyroxin (T4)

Mặt khác, TSH làm tăng chuyển hóa của glucose và có một tác động rõ rệt trên chuyển hóa lipid.

Bài xuất TSH của thùy trước tuyến yên được quyết định bởi các yếu tố:

1. Lượng hormon tuyến giáp tự do lưu hành trong hệ tuần hoàn:

  • Trong trường hợp suy giáp, giảm T4 hay T3 kích thích tuyến yên tiết TSH
  • Trong trường hợp cường giáp, tăng T4 hay T3 ức chế tuyến yên tiết TSH

2. TRH (Thyrotropin Releasing Hormone) được vùng dưới đồi bài xuất. Hormone bày kích thích tuyến yên tiết TSH

 

MỤC ĐÍCH VÀ CHỈ ĐỊNH XÉT NGHIỆM

  1. Để chẩn đoán các tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp (cường giáp hay suy giáp)
  2. Để chẩn đoán phân biệt nguồn gốc suy giáp là tại tuyến giáp (suy giáp tiên phát) hay ngoài tuyến giáp (thứ phát): khi tiến hành định lượng đồng thời nồng độ T4 tự do
  3. Để theo dõi đáp ứng điều trị của bệnh nhân bị rối loạn chức năng tuyến giáp.

 

CÁCH LẤY BỆNH PHẨM

XN được tiến hành trên huyết thanh.

Không nhất thiết yêu cầu BN phải nhịn ăn trước khi lấy máu làm XN. Nếu có thể được, khuyến cáo BN tạm ngừng dùng các thuốc có thể gây aarnh hưởng đến kết quả XN.

Bệnh phẩm sau khi lấy cần được ly tâm và bảo quản đông lạnh nhanh chóng nếu cần chuyển tới phòng XN để định lượng hormon.

 

GIÁ TRỊ BÌNH THƯỜNG

0.5 – 5 μU/mL hay 0.5 – 5 mIU/L. Tùy thuộc vào tuổi và giới.

Mặc dù có các dao động theo nhịp ngày đêm với một đỉnh bài tiết của TSH xảy ra gay trước khi đi ngủ, song các giá trị của TSH thu được vẫn trong giới hạn bình thường. Các giá trị của TSH không biến đổi khi có tình trạng stress, gắng sức hay do glucose.

 

TĂNG NỒNG ĐỘ TSH

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

1. Suy giáp nguồn gốc tại tuyến (tiên phát) chưa được điều trị: nói chung mức độ tăng TSH tương ứng với mức độ suy giảm chức năng tuyến giáp (thay đổi từ gấp 3 lần mức bình thường trong các trường hợp nhẹ tới gấp 100 lần bình thường trong các trường hợp phù niêm nặng). Một lần xác định duy nhất nồng độ TSH thường đủ để xác định chẩn đoán.

  • Nếu nồng độ T3 và T4 bình thường: suy giáp tiềm tàng
  • Nếu nồng độ T3 và/hoặc T4 thấp: suy giáp rõ rệt

2. BN bị suy giáp song được điều trị thay thế hormon giáp không đủ.

3. Dùng các thuốc gây suy giáp:

  • Thuốc kháng giáp trạng (Iod 131, propylthiourcil, strumazol)
  • Amiodaron
  • Lạm dụng amphetamin
  • Thuốc chứa iod (Vd: iopanoic acid, iopadat).
  • Thuốc đối kháng dopamin (dopamine antagonists) (Vd: metoclopramid, domperidon, chlopromazin, haloperidol).

4. Có khánh thể khánh TSH hay có tình trạng kháng hormon giáp

5. Sau cắt gần toàn bộ hay toàn bộ tuyến giáp

6. Cường giáp nguồn gốc tuyến yên (hiếm gặp): ví dụ tình trạng cường tuyến yên, u tế bào biểu mô tuyến yên (pituitary adenoma)

7. Sản xuất TSH lạc chỗ (vd: ung thư phổi, vú).

8. Viêm tuyến giáp Hashimoto (bao gồm các đối tượng bị suy giáp với biểu hiện lâm sàng, và khỏang 1/3 các bệnh nhân viêm tuyến giáp loại này với biểu hiện bình giáp trên lâm sàng

9. Các nguyên nhân khác (XN thường không hữu ích trên lâm sàng):

  • Tuổi: 10% BN > 60 tuổi có TSH tăng cao, mặt khác 25% số BN này bị giảm nồng độ T3 hoặc T4
  • Suy tuyến thượng thận tiên phát
  • Trẻ sơ sinh: TSH tăng cao trong các giờ đầu sau sinh và trở lại bình thường trong vòng 5 ngày đầu.
  • Bướu cổ do thiếu hụt iod hoặc các bướu giáp do iod gây nên hoặc do điều trị lithium
  • Giảm thân nhiệt
  • Tia xạ vùng cổ

 

GIẢM NỒNG ĐỘ TSH

Các nguyên nhân chính thường gặp:

1. Cường giáp nguồn gốc tại tuyến giáp (do T3 và T4)

2. Suy giáp nguồn gốc tuyến yên hay dưới đồi (suy giáp thứ phát)

3. Bướu giáp độc đa nhân (toxic multinodular goiter)

4. Bệnh mắt của bệnh Grave – Basedow giai đoạn bình giáp, bệnh Basedow đã được điều trị bình ổn

5. Viêm tuyến giáp

6. Do dùng thuốc hay nguồn hormon giáp không từ tuyến giáp

– Tinh chất giáp

– Amiodaron

– Chế phẩm chứa iod

– Propranolol

– Bồi phụ quá mức hormon giáp trong điều trị suy giáp

– Tác động của một số thuốc khi dùng với liều lớn (cần sử dụng XN định lượng FT4 để đánh giá):

  • Glucocorticoid, dopamin, thuốc chủ vận dopamin (Bromocriptin), Levodopa, điều trị bồi phụ bằng T4, apomorphin và pyridoxin (T4 bình thường hoặc thấp)
  • Thuốc kháng giáp trạng để điều trị tình trạng cường giáp, nhất là giai đoạn đầu điều trị (T4 bình thường hoặc thấp)

7. Một số bệnh nhân bình giáp có TSH thấp: thiếu hụt đơn lẻ TSH (rất hiếm gặp)

8. Suy giáp thứ phát do giảm chức năng tuyến yên hoặc nguyên nhân dưới đồi

9. Bệnh nhân bị bệnh nặng có chức năng tuyến giáp bình thường (euthyroid sick patients): gặp ở một số bệnh nhân

10. Các bệnh lý tâm thần cấp tính

11. Tình trạng mất nước nặng

12. Trong 3 tháng đầu khi có thai

13. Hội chứng não thực thể (organic brain syndrome)

 

NỒNG ĐỘ TSH CÓ THỂ BÌNH THƯỜNG TRONG

  • Suy giáp nguồn gốc trung ương. Trong trường hợp không có các bệnh lý của tuyến yên và vùng dưới đồi, XN TSH bình thường có thể đủ để loại trừ suy giáp tiên phát
  • Tình trạng suy giáp hay cường giáp được tiến hành chỉnh nhanh gần đây
  • Bệnh nhân có thai
  • Điều trị bằng phenytonin

 

CÁC YẾU TỐ GÓP PHẦN LÀM THAY ĐỔI KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM

  • Mẫu bệnh phẩm bị vỡ hồng cầu có thể làm thay đổi kết quả XN.
  • Các thăm dò tiến hành gần đây có sử dụng chất đồng vị phóng xạ có thể làm thay đổi kết quả XN
  • Nồng độ TSH chịu các biến đổi theo nhịp ngày đêm. Nồng độ nền xảy ra quanh thời điểm lúc 10h sáng với nồng độ cao nhất xảy ra quanh thời điểm 2-4 giờ sáng và nồng độ xảy ra vào lúc 5-6 giờ chiều.
  • Các thuốc có thể làm tăng nồng độ TSH là: Amiodaron, amphetamin, clomiphen, iod vô cơ, lithium, methimazol, metoclopramid, morphin, nitroprussid, phenylbutazon, kali iodure, propyl-thiouracil, thuốc cản quang, sulfornamid, sulflonylurea, tiêm hormone gây giải phóng hormon giáp (TRH)
  • Các thuốc có thể làm giảm nồng độ TSH là: Aspirin, dopamin, glucocorticoid, levodopa, phenyltoin, hormon giáp

 

LỢI ÍCH CỦA XÉT NGHIỆM ĐỊNH LƯỢNG TSH

1. XN hữu ích để chẩn đoán các rối loạn chức năng tuyến giáp và nguồn gốc gây ra rối loạn này (test được coi là nhạy để đánh giá chức năng tuyến giáp). Khi lâm sàng nghi ngờ có tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp, XN định lượng nồng độ TSH là chỉ định đầu tiên để sàng lọc và chẩn đoán tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp:

Advertisement

– Các loại suy giáp:

  • Nguồn gốc tuyến giáp: TSH tăng
  • Nguồn gốc tuyến yên hay dưới đồi: TSH thấp

– Các loại cường giáp:

  • Nguồn gốc tuyến giáp: TSH thấp
  • Nguồn gốc tuyến yên hay dưới đồi: TSH tăng

2. XN giúp theo dõi tiến triển bệnh tuyến giáp và đánh giá hiệu quả điều trị:

  • Giảm dần nồng độ TSH pử BN bị suy giáp tiên phát được điều trị bằng tinh chất giáp mặc dù nồng độ T4 có thể bị tăng nhẹ trong vòng 6-8 tuần trong khi nồng độ TSH đã trở về mức bình thường. Nồng độ TSH huyết thanh bị ức chế tới mức bình thường được coi là một chỉ số theo dõi tốt nhất cho dùng liều hormon giáp thích hợp trong điều trị tình trạng suy chức năng tuyến giáp.
  • Giúp theo dõi điều trị ức chế hormone giáp có thỏa đáng hay không trong ung thư biểu mô tuyến giáp (cần ức chế TSH tới mức < 0.1 μIU/mL) và bướu giáp hoặc nhân giáp trạng (cần ức chế TSH tới mức gần bình thường).

3. XN thường được sử dụng để đánh giá tình trạng chuyển hóa thực của bệnh nhân

4. Test sàng lọc đối với tình trạng bình giáp (euthyroidism):

  • Nồng độ TSH bình thường ở BN đi lại ổn định không có bất kỳ một tác động giao thoa nào với thuốc giúp loại trừ tình trạng tăng quá mức hoặc thiếu hụt hormon giáp
  • Định lượng TSH được khuyến cáo như một XN khởi đầu thay vì định lượng nồng độ T4
  • Sàng lọc không được khuyến cáo đối với các đối tượng không có triệu chứng khi không thấy có bất kỳ nghi vấn nào về bệnh lý tuyến giáp hoặc đối với các bệnh nhân nhập viện đang bị bệnh lý cấp cứu hoặc bệnh tâm thần.

5. XN đặc biệt hữu ích để chẩn đoán sớm trước khi có biểu hiện lâm sàng của tình trạng sy chức năng tuyến giáp (subclinical hypothyroidism) trước khi BN xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng, bướu cổ hoặc các bất thường xét nghiệm chức năng giáp khác.

6. Có thể thay thế cho test kích thích bằng TRH trong trường hợp cường giáp, do hầu hết các bệnh nhân có nồng độ TSH bình giáp (euthyroid TSH level) có đáp ứng TSH bình thường và các bệnh nhân có nồng độ TSH không phát hiện được gần như không bao giờ đáp ứng với test kích thích bằng TRH.

 

CÁC HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH LÂM SÀNG DỰA TRÊN Y HỌC BẰNG CHỨNG

Độ nhạy của XN TSH cho phép sử dụng XN này như một test àng lọc đơn độc tốt nhất đê rohast hiện tình trạng cường giáp và đối với các trường hợp BN ngoại trú, định lượng nồng độ TSH huyết thanh được coi là test nhạy nhất để phát hiện tình trạng thừa hay thiếu hormon giáp nhẹ và khó phát hiện lâm sàng.

 

CÁC CẢNH BÁO LÂM SÀNG

– Nồng độ TSH ở mức giới hạn bình thường cao có thể đã là một bằng chứng gợi ý có suy giáp, trái lại một nồng độ TSH thấp hay thậm chí không phát hiện được chưa đủ để phân biệt chắc chắn giữa một đối tượng bình thường với người bị cường giáp. Trong trường hợp nghi ngờ bị cường giáp hay suy giáp, thực hiện test TRH cùng với định lượng TSH ở thời điểm 0, 20 và 60 phút thường giúp có được chẩn đoán.

– Điều trị bằng amiodaron gây tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp ở 14 – 18% các BN dùng thuốc. Vì vậy trước khi bắt đầu điều trị cho BN, cần định lượng nồng độ TSH cơ sở (nền) và sau đó theo dõi định kỳ 6 tháng/lần XN này trong suốt quá trình điều trị cordaron cho bệnh nhân.

– Xét nghiệm TSH có thể là một test không hữu ích trong đánh giá tình trạng chức năng tuyến giáp của các bệnh nhân bị bệnh nặng cần nhập viện:

  • Khoảng 3 tháng trong quá trình điều trị cường giáp hoặc suy giáp xét nghiệm định lượng FT4 là test được chọn
  • Cần một khoảng thời gian 6 – 8 tuần để TSH trở lại bình thường sau khi bắt đầu điều trị thay thế hormon giáp.
  • Dopamin hoặc liều cao glucocorticoid có thể gây bình thường hóa giả tạo nồng độ TSH trong suy giáp tiên phát và có thể ức chế TSH trong các bệnh lý không phải tuyến giáp.

 

Nguồn: “Các xét nghiệm thường quy áp dụng trong thực hành lâm sàng” – do PGS.TS Nguyễn Đạt Anh và Dược sĩ chuyên khoa II Nguyễn Thị Hương biên soạn.

Xem tất cả xét nghiệm tại:http://ykhoa.org/category/khoa-hoc/khoa-hoc-can-lam-sang/xet-nghiem/

 

 

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu Lê Minh Thư

Check Also

[Sản khoa cơ bản số 86] Vàng da sơ sinh

Advertisement Mục tiêu bài giảng Sau khi học xong, sinh viên có khả năng: 1. …