[Medscape] Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và khí phế thủng trong y học cấp cứu

Print Friendly, PDF & Email

Tổng quan

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) được ước tính ảnh hưởng đến 32 triệu người ở Hoa Kỳ và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ tư ở quốc gia này. Bệnh nhân thường có các triệu chứng của cả viêm phế quản mạn và khí phế thủng, nhưng tam chứng kinh điển cũng bao gồm hen suyễn. Hầu hết COPD là thứ phát sau lạm dụng thuốc lá, một số nguyên nhân hiếm gặp khác như xơ nang, thiếu alpha-1 antitrypsin, giãn phế quản và một số dạng kén khí ở phổi.

Bệnh nhân COPD dễ bị mẫn cảm với nhiều tác nhân, có thể nhanh chóng dẫn đến tình trạng xấu đi cấp tính trên nền bệnh mạn tính. Đợt cấp COPD là một tham số quan trọng nhưng đôi khi bị bỏ qua. Đợt cấp COPD rất phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 20% bệnh nhân COPD mức độ trung bình tới nặng (1,3 trường hợp mỗi năm ở bệnh nhân có FEV1 dự đoán 40-45%). Một nghiên cứu thuần tập quan sát lớn cho thấy tỷ lệ đợt cấp COPD phản ánh một kiểu hình nhạy cảm độc lập. Kiến thức về kiểu hình nhạy cảm này có thể có ý nghĩa trong việc điều trị đích đợt cấp và trong phòng ngừa ở tất cả các mức độ nghiêm trọng của COPD. Nhận biết nhanh chóng và chính xác những bệnh nhân này cùng với can thiệp tích cực và nhanh chóng có thể là hành động duy nhất giúp ngăn ngừa suy hô hấp nặng.

Sinh lý bệnh

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là hỗn hợp của ba quá trình bệnh riêng biệt cùng nhau tạo thành bức tranh lâm sàng và sinh lý bệnh hoàn chỉnh. Các bệnh lí này là viêm phế quản mạn, khí phế thủng và hen (ở mức độ thấp hơn). Tiến triển của COPD được đặc trưng bởi sự tích tụ dịch nhầy viêm trong lòng các đường dẫn khí nhỏ và thành các đường dẫn khí này dày lên. Những thành này bị thâm nhiễm bởi các tế bào miễn dịch bẩm sinh và miễn dịch thích ứng. Sự thâm nhiễm của bạch cầu đơn nhân, bạch cầu đa nhân, lympho TCD4 tăng dần theo từng giai đoạn tiến triển của bệnh. Tương tự, lympho B và lympho T CD8 sẽ tập hợp ở các hạch bạch huyết. Quá trình viêm mạn này liên quan đến việc sửa chữa và tái tạo mô, yếu tố cuối cùng xác định loại bệnh lý của COPD.

Thuốc lá có vẻ như vượt qua được các cơ chế tự nhiên của cơ thể để hạn chế phản ứng miễn dịch này. Quá trình này có thể tiếp tục ở những người nhạy cảm ngay cả sau khi cai thuốc lá. Ngay cả khi những tác nhân kích thích độc hại ban đầu được loại bỏ, COPD vẫn được đặc trưng bởi sự tích tụ ngày càng tăng của các tế bào của hệ thống miễn dịch, xơ hóa và tăng tiết chất nhầy. Cơ sở phân tử cho tình trạng viêm phổi trong COPD vẫn còn là một lĩnh vực nghiên cứu và tranh luận lớn, với vai trò tiềm năng của cytokine, các quá trình tự miễn phức tạp và điều hòa miễn dịch khỏi nhiễm trùng mạn đều đang được nghiên cứu.

Đặc điểm xác định của COPD là giới hạn luồng khí không hồi phục hoàn toàn trong thở ra gắng sức. Điều này có thể là kết quả của việc mất độ đàn hồi do mô phổi bị phá hủy hoặc do tăng sức cản của đường dẫn khí. Phép đo tiêu chuẩn của COPD là phép đo thể tích thở ra tối đa trong giây đầu tiên (FEV1) và tỷ lệ của nó với dung tích sống gắng sức (FVC), FEV1/FVC.

Mỗi trường hợp COPD là một sự pha trộn khác nhau của các quá trình; tuy nhiên, có 2 loại bệnh chính đã được công nhận.

Viêm phế quản mạn

Trong thể này, viêm phế quản mạn đóng vai trò chính. Viêm phế quản mạn được xác định là do tăng tiết dịch nhầy kèm tắc nghẽn đường dẫn khí và tăng sản đáng kể các tuyến tiết nhầy, như được mô tả trong các hình ảnh dưới đây.

Ảnh 1 – COPD. Tế bào học của VPQ mạn cho thấy tăng sản các tuyến tiết nhầy và thành đường dẫn khí thâm nhiễm tế bào viêm

Ảnh 2 – COPD. Tế bào học của VPQ mạn cho thấy tăng sản  tăng sản các tuyến tiết nhầy và thành đường dẫn khí thâm nhiễm tế bào viêm (độ phóng đại lớn)

Tổn thương lớp niêm mạc hô hấp làm suy giảm phản ứng của chất nhầy và lông của hệ niêm mạc này để loại bỏ vi khuẩn và chất nhầy. Tình trạng viêm và tiết dịch là thành phần gây tắc nghẽn của viêm phế quản mạn. Ngược lại với khí phế thủng, viêm phế quản mạn có giường mao mạch phổi ít bị tổn thương. Khí phế thủng biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng thường là thể trung tâm tiểu thùy hơn là thể toàn tiểu thùy. Cơ thể đáp ứng bằng cách giảm thông khí và tăng cung lượng tim. Tỷ V/Q không phù hợp này dẫn đến tuần hoàn nhanh trong phổi kém thông khí, dẫn đến giảm oxy máu và đa hồng cầu.

Cuối cùng, tăng CO2 và toan hô hấp tiến triển, dẫn đến co động mạch phổi và tâm phế mạn. Với tình trạng giảm oxy máu, đa hồng cầu và tăng ứ đọng CO2,  những bệnh nhân này có dấu hiệu suy tim phải và được gọi là  “blue bloasters”.

Khí phế thủng

Thể thứ hai là trong đó khí phế thủng đóng vai trò bệnh lý nền chính. Khí phế thủng được xác định bởi sự phá hủy đường dẫn khí từ ngoại biên (phế nang) đến tiểu phế quản tận. 

Sinh lý của khí phế thũng liên quan đến sự phá hủy dần dần các vách ngăn phế nang và giường mao mạch phổi, dẫn đến giảm khả năng oxy hóa máu. Cơ thể bù trừ bằng giảm cung lượng tim và

Advertisement
tăng thông khí. Tỷ V/Q không phù hợp này dẫn đến lưu lượng máu tương đối hạn chế lưu thông trong phổi được cung cấp oxy khá tốt với khí máu và áp suất bình thường, trái ngược với tình trạng ở “blue bloasters”. Tuy nhiên, do cung lượng tim thấp, phần còn lại của cơ thể bị thiếu oxy mô và suy mòn phổi. Cuối cùng, những bệnh nhân này bị suy nhược cơ bắp và sụt cân và được xác định là “pink puffers”. 

Nguyên nhân COPD

Nhìn chung, phần lớn các trường hợp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là kết quả trực tiếp của việc lạm dụng thuốc lá. Trong khi các nguyên nhân khác đã được biết đến, chẳng hạn như thiếu alpha-1 antitrypsin, xơ nang, ô nhiễm không khí, tiếp xúc nghề nghiệp (ví dụ: lính cứu hỏa) và giãn phế quản, thì đây là một quá trình bệnh có mối tương quan trực tiếp với hoạt động sống.

Dịch tễ

Ở Hoa Kỳ

Ở những người hút thuốc, 2/3 nam giới và 1/4 phụ nữ bị khí phế thủng khi chết. Nhìn chung, 6,3% dân số trưởng thành Hoa Kỳ đã được nhân viên y tế cho biết rằng họ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), tương đương khoảng 15 triệu người. Đáng chú ý là nhiều người khác chưa bao giờ được chẩn đoán chính thức.

Giới tính

Nam giới dễ mắc COPD hơn nữ giới

Tuổi

COPD chủ yếu mắc phải ở những người trên 40 tuổi.

Tiên lượng

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư ở Hoa Kỳ, ảnh hưởng đến 32 triệu người trưởng thành. Nó cũng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ sáu trên toàn thế giới.

Tuổi của bệnh nhân và chỉ số FEV1 sau dùng thuốc giãn phế quản là những yếu tố tiên lượng quan trọng nhất. Bệnh nhân trẻ tuổi và FEV1 dự đoán lớn hơn 50% có liên quan đến tiên lượng tốt. Những bệnh nhân lớn tuổi và những người bị bệnh phổi nặng hơn thì tình trạng tồi tệ hơn.

Bổ sung oxy (khi được chỉ định) đã được chứng minh là làm tăng tỷ lệ sống sót.

Cai thuốc lá cải thiện tiên lượng.

Tâm phế mạn, tăng CO2 máu, nhịp tim nhanh và suy dinh dưỡng cho thấy tiên lượng xấu.

Giáo dục bệnh nhân

Giáo dục tốt nhất có hai dạng. Giáo dục bệnh nhân về sự nguy hiểm của hút thuốc và cải thiện chất lượng cuộc sống có thể đạt được khi cai thuốc lá. Hướng dẫn bệnh nhân COPD biết triệu chứng sớm của đợt cấp và không đợi cho đến khi họ qua cơn nguy kịch.

Theo quan sát của tác giả này, nhiều người mắc bệnh hô hấp không biết cách cơ bản để tự theo dõi diễn biến bệnh của mình. Ngoài ra, họ thường xuyên không uống / sử dụng khí dung theo quy định. Dành thời gian 5 phút để đảm bảo rằng họ có một buồng thở, sử dụng đúng liều lượng, đúng loại thuốc và biết khi nào cần tìm sự trợ giúp có thể giúp ngăn ngừa thảm họa hô hấp một cách lâu dài.

Bài viết gốc: Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD) and Emphysema in Emergency Medicine

Người dịch: Lý Anh
Biên tập: Trần Gia Minh
Hiệu đính: Bs.Huỳnh Lê Thái Bão

Bài viết được dịch thuật và biên tập bởi ykhoa.org – vui lòng không reup khi chưa được cho phép!

Advertisement

Giới thiệu Lý Anh

Check Also

[Sciencedaily] Tại sao suy nghĩ nhiều khiến bạn mệt mỏi

Không có gì ngạc nhiên khi lao động thể chất nặng khiến bạn kiệt sức, …