[Medscape] Các dấu ấn sinh học có thể chỉ ra mức độ nghiêm trọng của COVID ở trẻ em

Print Friendly, PDF & Email

Theo nghiên cứu được trình bày tại Hội nghị Quốc gia 2021 của Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ, có hai dấu ấn sinh học có khả năng chỉ ra những trẻ nhiễm SARS-CoV-2 nào có nguy cơ diễn tiến nặng.

Nghiên cứu ᴠiên cao cấp, bác sĩ Usha Sethuraman, giáo sư cấp cứu nhi khoa tại Central Michigan University College of Medicine ở Detroit cho biết: “Hầu hết trẻ em bị COVID-19 có các triệu chứng thông thường, chẳng hạn như sốt, đau bụng và nôn. 

Bà nói với Medscape Medical News: “Trong nhiều trường hợp, ngay cả khi đã xác định nhiễm SARS-CoV-2 ,cũng không thể dự đoán được đứa trẻ nào sẽ diễn tiến đến các hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như hội chứng viêm đa cơ quan [MIS-C] hoặc viêm phổi nặng. 

Bà nói thêm: “Thực tế, nhiều đứa trẻ trong số này đã được đưa về nhà lần đầu tiên khi chúng có biểu hiện tốt về mặt lâm sàng, và chỉ trở lại sau vài ngày trong tình trạng sốc tim và cần can thiệp xâm lấn”. “Sẽ là rất quý giá nếu biết được đứa trẻ nào có khả năng bị diễn tiến nặng để có thể sắp xếp và bắt đầu điều trị thích hợp.”

Trong nghiên cứu quan sát đoàn hệ tiền cứu của họ, Sethuraman và các đồng nghiệp của bà đã thu thập các mẫu nước bọt từ trẻ em và thanh thiếu niên khi họ được chẩn đoán nhiễm SARS-CoV-2. Các nhà nghiên cứu đã xét nghiệm nước bọt để tìm các RNA vi mô (miRNA), là các RNA nhỏ không mã hóa, giúp điều chỉnh sự biểu hiện gen và “được cho là có vai trò trong việc điều chỉnh quá trình viêm sau khi một nhiễm trùng” – họ ghi như vậy trong poster của mình.

Trong số 129 thanh niên được đánh giá, 32 (25%) có tình trạng bệnh nặng và 97 (75%) người không có. Các nhà nghiên cứu đã xác định bệnh nặng là khi được chẩn đoán MIS-C, tử vong trong 30 ngày sau khi chẩn đoán, hoặc cần ít nhất 2L oxy, cần dùng thuốc tăng co bóp có tim, thở máy hoặc oxy hoá qua màng ngoài cơ thể (ECMO).

Sự biểu hiện của 63 miRNA có sự khác biệt đáng kể giữa những người trẻ có và không có tình trạng nặng (P <0,05). Có sự điều hoà giảm biểu hiện đối với 38 trong số 63 miRNA (60%) ở những trường hợp nặng.

Sethuraman báo cáo: “Một mô hình gồm sáu miRNA có thể phân biệt giữa nhiễm trùng nặng và nhiễm trùng không nặng với độ nhạy và độ chính xác cao trong một phân tích sơ bộ. “Mặc dù miRNA nước bọt đã được chứng minh trong các nghiên cứu khác để giúp phân biệt những sang chấn dai dẳng ở trẻ, nhưng chúng tôi không mong đợi chúng bị điều hoà giảm biểu hiện ở trẻ em nhiễm COVID-19 nghiêm trọng.”

Bác sĩ Sindhu Mohandas, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm nhi tại Bệnh viện Nhi Los Angeles, cho biết sự khác biệt đáng kể trong biểu hiện miRNA ở những người có và không có tình trạng nặng là rất “đáng chú ý”, mặc dù đây chỉ là một phân tích tạm thời với cỡ mẫu khá nhỏ.

Bà nói với Medscape Medical News: “Sẽ rất thú vị nếu những nghiên cứu này được tiếp tục với những con số lớn hơn được phân tích. “Các dấu ấn sinh học có thể dự đoán mức độ nghiêm trọng tiềm ẩn cũng như rất hữu ích trong việc xác định và quản lý nguy cơ. Một đứa trẻ tăng các dấu ấn sinh học chỉ điểm mức độ nghiêm trọng có thể được theo dõi chặt chẽ hơn và nhờ đó các biến chứng có thể được đề phòng và ngăn chặn.”

Các nhà nghiên cứu kết luận rằng sự khác biệt lớn nhất giữa các trường hợp có và không có tình trạng nặng là sự biểu hiện của miRNA 4495. Ngoài ra, miRNA 6125 dường như có khả năng tiên lượng bệnh. Sethuraman nói rằng có ba cytokine tăng cao trong các mẫu nước bọt lấy từ những trường hợp nặng, nhưng nồng độ cytokine không thể giúp phân biệt giữa có hay không có tình trạng bệnh nặng.

Nếu các nghiên cứu sâu hơn xác nhận những phát hiện này và xác định rằng những miRNA này thực sự có thể cung cấp cái nhìn rõ hơn về quá trình nhiễm trùng, thì nó “sẽ là một yếu tố thay đổi cuộc chơi, về mặt lâm sàng”, đặc biệt vì lấy các mẫu nước bọt ít xâm lấn và ít đau hơn so với việc lấy máu .

Advertisement

Mohandas lưu ý rằng tiềm năng ứng dụng của những dấu ấn sinh học này có thể không chỉ giới hạn ở những trẻ nhập viện.

Cô nói với Medscape Medical News : “Lấy ví dụ, nó sẽ là một phương pháp không xâm lấn và dễ dàng để dự đoán mức độ nghiêm trọng tiềm ẩn ở một đứa trẻ đến phòng cấp cứu và giúp quyết định giữa việc theo dõi thêm, nhập viện hay nhập ICU”. “Tuy nhiên, hiện tại, thử nghiệm này không dễ để tiến hành thường quy vì chi phí và khả năng tiếp cận sẽ là những yếu tố chính cần được khắc phục trước khi có thể được sử dụng cho các mục đích kể trên.”

Sethuraman đã cảnh báo rằng những phát hiện này là sơ bộ, từ một cỡ mẫu nhỏ và cần được xác nhận. Và nhóm nghiên cứu chỉ phân tích nước bọt được thu thập khi đã có chẩn đoán, vì vậy không có dữ liệu về những thay đổi tiềm ẩn trong cytokine hoặc miRNA xảy ra khi bệnh tiến triển.

Bước tiếp theo cần “mô tả tốt hơn những gì xảy ra theo thời gian với các cấu hình này”. Bà giải thích : “Vai trò của các sai biệt về tuổi tác, chủng tộc và giới tính trong hồ sơ dấu ấn sinh học ở nước bọt cũng cần được nghiên cứu thêm.”

Mohandas cũng cho biết sẽ rất thú vị khi xem liệu sự biểu hiện đa dạng của miRNA “có thể giúp phân biệt các biến chứng khác nhau hậu COVID-19, như suy hô hấp cấp, MIS-C và COVID kéo dài hay không”. “Điều đó nghĩa là nó có thể được sử dụng không chỉ để dự đoán mức độ nghiêm trọng của bệnh mà còn để dự đoán các hậu quả khác xuất hiện muộn hơn.”

Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi một khoản tài trợ từ Viện Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Quốc gia Eunice Kennedy Shriver thông qua chương trình Rapid Acceleration of Diagnostics (RADx) của Viện Y tế Quốc gia . Đồng tác giả, giáo sư, bác sĩ Steven D. Hicks là một người tư vấn cho Quadrant Biosciences.

Hội nghị toàn quốc năm 2021 của Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics – AAP). Trình bày ngày 11 tháng 10 năm 2021.

Tara Haelle, một nhà báo khoa học và y khoa ở Dallas.

Nguồn : Medscape

Link : https://www.medscape.com/viewarticle/960964#vp_2

Người dịch : Tuyết Dương

Bài viết được dịch thuật và biên tập bởi ykhoa.org – vui lòng không reup khi chưa được cho phép.

Advertisement

Giới thiệu TuyetDuong

Check Also

[Uptodate] Rối loạn chức năng nội tiết trong hội chứng thận hư – Phần 2

CHUYỂN HOÁ VITAMIN D VÀ CANXI Ảnh hưởng đến vitamin D và canxi – Trong …