[Medscape] Hướng dẫn kê đơn thuốc kháng sinh ngắn ngày (ACP, 2021)

Advertisement

Hướng dẫn về sử dụng thuốc kháng sinh ngắn ngày thích hợp trong các bệnh nhiễm trùng thông thường đã được xuất bản vào tháng 4 năm 2021 bởi Trường Đại học Y khoa Hoa Kỳ về Y học Nội khoa .

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và viêm phế quản chưa biến chứng

Nếu bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và viêm phế quản cấp chưa có biến chứng có dấu hiệu nhiễm vi khuẩn, chẳng hạn như tăng tiết đờm, cùng với khó thở và / hoặc thể tích đờm tăng, thì điều trị kháng sinh nên được giới hạn trong thời gian 5 ngày.

Lựa chọn kháng sinh dựa trên các nguyên nhân vi khuẩn phổ biến nhất, bao gồm Haemophilus influenzae, Streptococcus pneumoniae và Moraxella catarrhalis .

Các tác nhân điều trị được khuyến nghị bao gồm aminopenicillin với axit clavulanic, macrolid và tetracyclin.

Viêm phổi cộng đồng

Thời gian điều trị kháng sinh tối thiểu đối với bệnh viêm phổi mắc phải tại cộng đồng là 5 ngày. Bất kỳ sự kéo dài điều trị kháng sinh nào quá 5 ngày đều phải dựa trên các biện pháp ổn định về mặt lâm sàng đã được xác nhận; những biện pháp này bao gồm (1) dấu hiệu sinh tồn ổn định (2) khả năng ăn uống và (3) tâm lý ổn định.

Lựa chọn kháng sinh dựa trên căn nguyên vi khuẩn phổ biến nhất, bao gồm S pneumoniae, H influenzae, Mycoplasma pneumoniae và Staphylococcus aureus , cùng với các mầm bệnh không điển hình (ví dụ: Legionella).

Các tác nhân điều trị được khuyến nghị bao gồm amoxicillin, doxycycline, hoặc macrolide ở người lớn khỏe mạnh hoặc ở những bệnh nhân mắc bệnh  kèm, beta-lactam với macrolide hoặc fluoroquinolone đường hô hấp.

Nhiễm trùng đường tiết niệu

Ở nam giới hoặc phụ nữ bị viêm bể thận không biến chứng, khuyến cáo là điều trị kháng sinh một đợt ngắn với fluoroquinolon (5-7 ngày) hoặc trimethoprim-sulfamethoxazole (14 ngày), dựa trên tính nhạy cảm với kháng sinh.

Ở những phụ nữ bị viêm bàng quang do vi khuẩn không biến chứng, khuyến cáo là dùng một đợt kháng sinh ngắn hạn với nitrofurantoin (5 ngày), trimethoprim-sulfamethoxazole (3 ngày), hoặc fosfomycin (liều duy nhất).

Advertisement

Viêm mô tế bào

Đối với bệnh viêm mô tế bào không sinh mủ, nên dùng liệu pháp kháng sinh từ 5 đến 6 ngày có hoạt tính chống lại các loài liên cầu (ví dụ: cephalosporin, penicillin, clindamycin); điều này đặc biệt thích hợp cho những bệnh nhân có thể tự theo dõi và cho những người được chăm sóc chính theo dõi chặt chẽ.

Những khuyến cáo này không áp dụng cho những bệnh nhân bị viêm mô tế bào có mủ (ví dụ, áp xe, mụn nhọt, mụn nhọt) hoặc nghi ngờ nhiễm trùng S aureus kháng methicillin (MRSA).

Để biết thêm nhiều thông tin, các bạn có thể cập nhật ở các trang sau:

Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD)

Bronchitis

Community-Acquired Pneumonia (CAP)

Urinary Tract Infection (UTI) and Cystitis (Bladder Infection) in Females

Urinary Tract Infection (UTI) in Males

Cellulitis

Tài liệu tham khảo

  1. Lee RA, Centor RM, Humphrey LL, Jokela JA, Andrews R, Qaseem A. Appropriate Use of Short-Course Antibiotics in Common Infections: Best Practice Advice From the American College of Physicians. Ann Intern Med. 2021 Apr 6. Available at: https://www.acpjournals.org/doi/10.7326/M20-7355.
  2. Haelle T. New Guidelines on Antibiotic Prescribing Focus on Shorter Courses. Medscape Medical News. April 5, 2021. Available at: https://www.medscape.com/viewarticle/948754.

Nguồn: Short-Course Antibiotic Prescribing Clinical Practice Guidelines (ACP, 2021)

Người dịch: Kim Luận

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu Kimluan

Check Also

[Uptodate] Quản lý bệnh đái tháo đường nội viện – phần 1

Advertisement GIỚI THIỆU Bệnh nhân đái tháo đường thường nhập viện để điều trị các …