[Sản khoa cơ bản số 18] TẦM SOÁT NHIỄM TRÙNG Ở THAI PHỤ: HIV, VIÊM GAN SIÊU VI, VIÊM ÂM ĐẠO DO VI KHUẨN

Advertisement

Mục tiêu bài giảng

Sau khi học xong, sinh viên có khả năng:

1. Liệt kê được các loại nhiễm trùng ở thai phụ có ảnh hưởng lên thai

2. Trình bày được cách tiếp cận một thai phụ nhiễm HIV

3. Trình bày được cách tiếp cận một thai phụ nhiễm HBV

4. Trình bày được cách tiếp cận một thai phụ viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis)

Phân loại nhiễm trùng trong thai kỳ

Nhiễm trùng trong thai kỳ được phân ra:

1. Nhiễm trùng ở thai phụ có biến chứng và nặng lên trong thai kỳ

2. Nhiễm trùng thường gặp trong thai kỳ và hậu sản

3. Nhiễm trùng đặc biệt chỉ xuất hiện lúc có thai

4. Nhiễm trùng ảnh hưởng lên thai.

Nhiễm trùng ở thai phụ có biến chứng và nặng lên trong thai kỳ: nhiễm trùng tiểu, viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis), vết thương ngoại khoa, nhiễm Streptococcus nhóm B (GBS).

Nhiễm trùng thường gặp trong thai kỳ và hậu sản: viêm đài bể thận, viêm nội mạc tử cung, viêm tuyến vú, hội chứng shock nhiễm độc (toxic shock syndrome).

Nhiễm trùng đặc biệt chỉ xuất hiện lúc có thai: nhiễm trùng ối, nhiễm trùng do thuyên tắc tĩnh mạch sâu, rách tầng sinh môn và hội âm

Nhiễm trùng ảnh hưởng lên thai: nhiễm trùng sơ sinh (nhiễm streptococcus nhóm B và E. coli); nhóm các nhiễm trùng TORCH gồm Toxoplasma, Rubella, Cytomegalovirus, HSV; Varicella Zoster virus; Par- vovirus B19; HBV và HCV; giang mai; HIV.

Nhiễm trùng gây nhiều hệ quả trên cả thai phụ và thai nhi.

Nhiễm HIV trong thai kỳ

Trong thai kỳ, cần thực thi các biện pháp tầm soát các thai phụ bị nhiễm HIV nhằm mục đích triển khai các biện pháp chống lây truyền dọc từ mẹ sang con ở các thai phụ này, trong đó có điều trị với ARVs.

HIV thuộc nhóm RNA virus.

Nếu thai phụ bị nhiễm HIV nhưng không điều trị, có 25% trẻ sẽ bị lây truyền từ mẹ. Nguy cơ này càng tăng cao vào 3 tháng cuối thai kỳ, lúc chuyển dạ sanh, sổ thai, có vỡ ối non. Do vậy, việc khuyến cáo mổ sanh được đặt ra nếu có trên 1000 copies/mL hoặc CD4 giảm. Hiện nay, WHO khuyến cáo nên thực hiện tầm soát HIV và thực hiện điều trị với 3 ARV sớm trong thai  kỳ với mục đích hạn chế việc lây truyền dọc từ mẹ sang con.

Chẩn đoán nhiễm HIV ở thai phụ dựa vào xét nghiệm ELISA (+) (Se 93-99%, Sp 99%). Khi ELISA (+), thực hiện Western blot test (Se 99%, Sp 98.5%), đồng thời tiến hành điều trị với ARV.

Zidovudine (ZDV) được chỉ định sau 3 tháng đầu thai kỳ, khi sanh (bắt đầu chuyển dạ hoặc ối vỡ) và sau khi sanh.

Nhiễm HBV trong thai kỳ

Trong thai kỳ, cần thực thi các biện pháp tầm soát các thai phụ bị nhiễm HIV nhằm mục đích triển khai các biện pháp chống lây truyền dọc từ mẹ sang con ở các thai phụ này, trong đó có tiêm Im- munoglobulin và Vaccin cho sơ sinh.

HBV thuộc nhóm RNA virus. Chẩn đoán nhiễm HBV trong thai kỳ chủ yếu dựa vào xét nghiệm huyết thanh học ở giai đoạn trước sanh (3 tháng đầu và 3 tháng giữa), cần định lượng HBsAg, HBeAg, chức năng gan và định lượng DNA HBV.

Nếu thai phụ nhiễm HBV với biểu hiện HBsAg(+), cần thực hiện thêm một số xét nghiệm để đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhiễm virus lên thai kỳ(xem lưu đồ).

Advertisement

Nếu thai phụ có HBsAg (+) và HBeAg (+), khả năng cao bé bị nhiễm HBV từ mẹ nên cần tiêm immuno- globulin cho bé trong vòng 12 giờ sau sanh, đồng thời tiêm đủ vaccine vào ngày 1st 30th, và 60th sau sanh. Bé sau sanh cũng cần được xét nghiệm tìm HBsAg, HBsAb và HBcAb.

Thai phụ bị viêm âm đạo do vi khuẩn không điều trị thường gây ra các biến chứng sanh non, màng ối vỡ non, sẩy thai liên tiếp, viêm màng ối, viêm nội mạc tử cung hậu sản, nhiễm trùng vết mổ lấy thai, nhiễm trùng hậu phẫu và các bệnh lý viêm nhiễm vùng chậu.

Chẩn đoán viêm âm đạo do vi khuẩn dựa vào tiêu chuẩn Amsel (1983), khi có 3 trong 4 tiêu chuẩn sau

1. Khí hư đặc trưng của BV

2. pH âm đạo > 4.5

3. Có “Clue cells” trên khảo sát dịch âm đạo

4. Whiff test (+)

Các tổng quan chứng cứ khác nhau cho kết luận khác nhau về việc điều trị BV có thể làm giảm sanh non. Điều trị cổ điển, ngoài thai kỳ của BV là Metronidazol 500 mg uống 2 lần/ngày trong 7 ngày hoăc Clindamycin 300mg uống 2 lần/ngày trong 7 ngày.

Không có bằng chứng cho thấy Metronidazole gây quái thai và đột biến. Metronidazole dược xem là an toàn cho thai phụ.

Tuy nhiên, các chứng cứ gần đây hơn, dựa trên các khảo sát về microbiome cho thấy rằng metronidazole không có trác động trên microbiome của BV trong sanh non, ngược lại, việc điều trị cần được tiến hành với clindamycin, và thật sớm, nhằm ngăn cản bệnh sinh của sanh non.

Tài liệu đọc thêm

1. SOGC Clinical Pratice Guideline Screening and Management of Bacterial Vaginosis in Pregnancy
2. Obstetrics and gynecology 7th edition. Tác giả Beckmann. Hợp tác xuất bản với ACOG. Nhà xuất bản Wolters Kluwer Health 2014.

Tài liệu tham khảo chính

1. SOGC Clinical Pratice Guideline Screening and Management of Bacterial Vaginosis in Pregnancy
2. Obstetrics and gynecology 7th edition. Tác giả Beckmann. Hợp tác xuất bản với ACOG. Nhà xuất bản Wolters Kluwer Health 2014.
3. Đỗ Thị Ngọc Mỹ, Tô Mai Xuân Hồng (2018). Bài giảng TBL sản khoa Y4. Đại học Y  TP Hồ Chí Minh

Xem tất cả các bài TBL Sản khoa tại: https://ykhoa.org/category/khoa-hoc/khoa-hoc-lam-sang/tbl-san/

 

 

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu BinhPhan

Check Also

[Xét nghiệm 50] Glucose niệu (Glycosurie/ Glucose, Urine)

Advertisement Nhắc lại sinh lý Trong điều kiện bình thường, glucose được lọc qua các …