[Sổ tay Harrison Số 3] Chẩn đoán hình ảnh trong Nội khoa

Các bác sĩ có một loạt các kĩ thuật hình ảnh ở nơi làm việc của họ để hỗ trợ họ trong việc chẩn đoán không xâm lấn. Mặc dù sự ra đời của phương thức hình ảnh chuyên môn cao, các như Xquang ngực và siêu âm tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong các chẩn đoán để chăm sóc . hết các nơi, CT có sẵn trên cơ sở cấp cứu và rất có ích trong đánh giá ban đầu có chấn thương, đột quỵ, nghi ngờ hệ thần kinh trung ương CNS , hoặc đột quỵ thiếu cục
bộ. MRI và các kĩ thuật liên quan (chụp mạch, MRI chức năng, phổ cộng hưởng từ MRS) cung cấp hình ảnh tốt của nhiều mô bao gồm não, hệ thống , khớp, và phần lớn các cơ quan lớn. Quét hạt phóng xạ gồm PET ( chụp xạ hình cắt lớp Positron) có thể đánh giá được chức năng của cơ quan hoặc khu vực cụ thể trong cơ quan. Phối hợp PET với MRI hoặc CT cung cấp hình ảnh rất nhiều thông tin của vị trí và các tổn thương hoạt động trao đổi , chẳng hạn như ung thư.
Chương này xem xét các chỉ dẫn và tiện ích của các chẩn đoán hình ảnh mà các bác sĩ hay dùng.

XQUANG NGỰC (SƠ ĐỒ. 3-1)


Có thể có kết quả nhanh chóng và nên là một phần của việc đánh giá cơ các phàn nàn về tim .
Có thể xác định những đe dọa tính mạng như tràn khí , tràn khí sau phúc mạc, phù , viêm , và bóc tách động mạch chủ.
Thường bình thường ở có tắc cấp.
Nên làm lại 4–6 tuần ở có viêm cấp tính để làm tài liệu thâm nhiễm trên X quang.
Được sử dụng kết hợp với thăm lâm sàng để hỗ trợ chẩn đoán suy tim sung huyết. X quang hỗ trợ chẩn đoán suy tim bao gồm tim to, tăng tưới vùng đỉnh , đường Kerley B, và tràn dịch .
Nên làm hàng ngày ở đặt nội khí quản để kiểm tra vị trí ống nội khí quản và khả năng thương tổn do áp suất.
Giúp xác định các bệnh hoặc đường dẫn khí. Hình ảnh Xquang của bệnh gồm không đồng nhất, mờ không điều và nhánh phế quản khí.
Giúp xác định tràn dịch tự do.Chụp tư thế nằm nên được làm để loại trừ tràn dịch khu trú trước khi chọc dịch.


XQUANG BỤNG


Nên là chỉ định hình ảnh ban đầu ở một nghi ngờ tắc ruột.
Dấu hiệu của tắc ruột cao trên Xquang gồm nhiều mức hơi dịch, không có bóng hơi ruột già, và có “bậc thang” xuất hiện ở quai ruột non.

HÌNH 3-1 Xquang ngực bình thường . 1. Khí quản. 2. Carina. 3. Nhĩ phải. 4. Vòm hoành phải. 5. Quai động mạch chủ. 6. Rốn trái. 7. Thất trái. 8. Vòm hoành trái (với bóng hơi dạ dày). 9. Khoảng sáng sau ức. 10. Thất phải. 11. Vòm hoành trái (với bóng hơi dạ dày). 12. Phế quản thùy trái trên.

Không nên chụp cản quang với Bari khi thủng ruột, khí ở cửa, hoặc nghi ngờ megacolon.
Được sử dụng để đánh giá kích thước ruột:
1. Bình thường <3 cm.
2. Kích thước bình thường của manh tràng lên đến 9 cm, phần còn lại của ruột lên đến 6 cm.


SIÊU ÂM


Nó nhạy và đặc hiệu hơn CT scan trong đánh giá bệnh lý túi mật.
Có thể dễ dàng xác định kích thước của thận ở suy thận và có thể loại trừ sự hiện diện của ứ .
Có thể đánh giá nhanh sự hiện diện của dịch ổ bụng ở một với chấn thương bụng.
Được sử dụng kết hợp với Doppler để đánh giá sự hiện diện của bệnh xơ vữa động mạch.
Được sử dụng để đánh giá các van tim và chuyển động thành tim.
Nên được dùng để xác định dịch khu trú và dịch trước màng bụng để tiến hành chọc hút.
Có thể xác định kích thước của giáp và hướng dẫn chọc hút bằng kim sinh thiết.
Có thể xác định kích thước và vị trí của bạch huyết, đặc biệt là tại các địa điểm bề ngoài như ở cổ.
Là phương thức được lựa chọn để đánh giá nghi ngờ bệnh lý bìu.
Nên là phương thức đầu tiên được sử dụng khi đánh giá buồng trứng.


CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH (CT)


CT dùngmột liều bức xạ cao hơn đáng kể so với chụp X quang thông thường; do đó nó nên được sử dụng một cách cân nhắc.
CT của não nên được các phương thức chụp ảnh phóng xạ ban đầu đánh giá một bị đột quỵ tiềm ẩn.
Rất nhạy để chẩn đoán một dưới nhện cấp tính, và trong bối cảnh cấp tính, nhạy hơn MRI.
CT của não là một kiểm tra quan trọng trong việc đánh giá một với những thay đổi trạng thái tâm thần để loại trừ các thực thể như chảy nội sọ, hiệu ứng khối, tụ dưới màng cứng hoặc ngoài màng cứng, và não úng thủy.
Tốt hơn so với MRI để đánh giá tổn thương sọ và sống.
CT ngực nên được xem xét trong việc đánh giá một bệnh với đau ngực để loại trừ các nghẽn mạch hoặc bóc tách động mạch chủ.
CT của ngực là điều cần thiết để đánh giá nốt ở để xem xét sự hiện diện của ngực.
CT, với giảm độ phân giải cao qua , là phương thức lựa chọn cho việc đánh giá các kẽ trong một bệnh có bệnh kẽ.
Có thể được sử dụng để đánh giá sự có mặt của dịch và màng ngoài tim và đánh giá tràn dịch khu trú.

Advertisement
Là hữu ích trong một bệnh với đau bụng không rõ nguyên để đánh giá các điều kiện như viêm ruột thừa, thiếu cục bộ mạc treo hoặc nhồi , viêm túi thừa, hoặc viêm tụy.

CT của bụng cũng là xét nghiệm để đánh giá cho bệnh sỏi thận trong một bệnh với cơn đau quặn thận.
Là xét nghiệm được lựa chọn để đánh giá sự hiện diện của một áp xe ở ngực hoặc bụng.
Kết hợp với chụp X quang bụng, CT có thể giúp xác định nguyên tắc ruột.
Có thể xác địnhlồng ruột và xoắn trong một bệnh đau bụng.
Là phương thức hình ảnh của sự lựa chọn cho việc đánh giá tràn khí phúc mạc.
Nên làm khẩn trương ở một bệnh chấn thương bụng để đánh giá sự hiện diện của nội và để đánh giá tổn thương đến các cơ quan bụng.

CHỤP CỘNG HƯỞNG TỪ (MRI)


Là có ích hơn CT trong đánh giá của nhồi , mất trí nhớ, thương tổn dạng khối, bệnh hủy Myelin, và phần lớn các rối loạn tủy sống.
Cung cấp hình ảnh tuyệt vời của các khớp lớn như đầu gối, hông và vai.
Có thể được sử dụng, thường xuyên với CT hoặc chụp động mạch, để đánh giá khả năng phình động mạch chủ và dị tật bẩm sinh của hệ thống tim mạch.
Cardiac MRI được chứng minh hữu ích để đánh giá vận động thành tim và để đánh giá khả năng phát triển cơ tim trong bệnh tim thiếu cục bộ.
Là thích hợp hơn để CT để đánh giá thượng thận như u tủy thượng thận và giúp phân biệt u thượng thận lành tính và ác tính.
Là thích hợp hơn để CT để đánh giá tổn thương và bệnh lý cạnh hố yên.


XẠ HÌNH


Radionuclides có thể được sử dụng trong các dạng của các ion phóng xạ (iodide, gallium, thallium) hoặc các phóng xạ có ái lực
với mô cụ thể ( có phóng xạ, như, bisphosphonates, sestamibi, octreotide, metaiodobenzylguanidine [MIBG], iodocholesterol, etc.), hoặc trong các dạng fluorodeoxyglucose cho PET scan.
Xạ hình có thể được kết hợp/sáp nhập với CT hoặc MRI cho hình ảnh giải phẫu chính xác của mô hạt phóng xạ.
Xạ hình cắt lớp (SPECT) là tương tự với CT, sử dụng hạt nhân phóng xạ thay vì tia X. Nó cho hình ảnh trực quan của lát cắt mà máy tính chế tác để mang lại sự tái tạo ba chiều.
PET là rất hữu ích cho việc phát hiện các mô hoạt động trao đổi , chẳng hạn như ung thư và di căn, và đã thay thế phần lớn các phương thức cũ của quét hạt nhân phóng xạ (ví dụ, gali xạ hình).
Quét hạt nhân phóng xạ thường xuyên theo chỉ là:
1. Quét để tìm bệnh di căn hay viêm tủy
2. Quét sestamibi khu trú trước phẫu thuật của u tuyến cận giáp
3. Quét tuyến giáp (technetium và iốt) để xác định các nhân giáp nóng hoặc lạnh.

Quét hạt nhân phóng xạ từng chuyên khoa gồm quét tali hoặc sestamibi quét tưới cơ tim, quét thông khí/tưới , quét octreotide cho các khối u thần kinh nội tiết, quét MIBG cho u tủy thượng thận, quét iodocholesterol cho u tuyến thượng thận, và toàn bộ cơ thể quét radioiodine cho bệnh ung thư tuyến giáp phổ biến.
Quét radioiodine của tuyến giáp có thể được sử dụng để có được thông tin định lượng về sự hấp thu iod của tuyến giáp, đó là hữu ích để phân biệt cấp tính là viêm tuyến giáp do bệnh Graves.


Nguồn: Harrison Manual of  18th

Tham khảo bản dịch của: nhóm “Chia 

Người viết: Donny Trần

 

 

 

 

Advertisement

Giới thiệu Donny

Avatar

Like page Y lâm sàng để cập nhật những thông tin và bài viết mới nhất!

Check Also

[Sổ tay Harrison Số 163] Viêm gan cấp

VIÊM GAN VI RÚT Viêm gan virut cấp tính là một nhiễm trùng toàn thân …