[Xét nghiệm 35] Ferritin

Advertisement

FERRITIN

(Ferritine / Ferritin)

Nhắc lại sinh lý

Ferritin là một protein chính giúp dự trữ sát trong cơ thể (với 1 ng ferritin/m. chỉ dẫn tổng dự trữ sắt là 10 mg). Đây là một protein rất lớn (trọng lượng phân tử lên tới 440 kDa) với 24 dưới đơn vị bao gồm các chuỗi nặng và chuỗi nhẹ và có thể dự trữ được tới 4500 nguyên tử sắt, vì vậy định lượng nồng độ ferritin cung cấp một chỉ dẫn về tổng kho dự trữ sắt có thể được cơ the dua ra su dung

Nồng độ ferritin giảm xuống trước khi xảy ra triệu chứng thiếu máu. Vd: trong giai đoạn 1 của thiếu máu do thiếu sắt, các kho chứa ferritin và henosiderin sẽ bị thiếu hụt. Trong giai đoạn 2, sắt huyết thanh giảm xuống và khả năng gắn sát toàn thể tăng lên. Chỉ tới giai đoạn 3, nồng độ hemoglobin mới giảm và tình trạng thiếu hụt sắt mới có tác động đến quá trình sinh tổng hợp hem.

Ferritin còn là một chất phản ứng pha cấp, và cùng với transferrin, ferritin phối hợp điều hòa khả năng đề kháng của tế bào chống lại các stress oxi hóa và tình trạng viêm.

Ferritin huyết tương được định lượng trên lâm sàng thường là apoferritin (một phân tử không chứa sắt).

Mục đích và chỉ định xét nghiệm

Để đánh giá kho dự trữ sắt có thể huy động được của cơ thể. Vì vậy được chỉ định để:

– Dự kiến và theo dõi tình trạng thiếu hụt sắt trong cơ thể.

– Xác định đáp ứng với điều trị bổ sung sắt, hoặc mức tuân thủ điều trị của bệnh nhân.

– Chẩn đoán phân biệt các thiếu máu do thiếu hụt sát với thiếu máu do bệnh lý mạn tính.

– Theo dõi và phát hiện tình trạng quá tải sắt ở một số tình trạng bệnh lý (Vd: suy thận).

– Nghiên cứu quần thể cộng đồng để đánh giá nồng độ sắt và đáp ứng với điều trị bổ sung sắt.

Cách lấy bệnh phẩm

XN được thực hiện trên huyết tương hoặc huyết thanh. BN được yêu cầu nhịn ăn trước khi lấy máu XN,

Giá trị bình thường

  • Nam: 23 – 300 ng/mL hay 23 – 300 mg/L (ở đối tượng có dự trữ sắt bình thường giá trị này phải > 30 ng/mL).
  • Nữ. 12 – 150 ng/mL hay 12 – 150 ug/L.
  • Trẻ > 5 tháng 7 – 140 ng/mL hay 7 – 140 kg/L.
  • 2 – 5 tháng 50 – 200 ng/mL hay 50 – 200 g/L.
  • 1 tháng 200 – 600 ng/mL hay 200 – 600 kg/L.
  • Trẻ sơ sinh: 25 – 200 ng/mL hay 25 – 200 mg/L.

Tăng nồng độ ferritin máu

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

  • Bệnh gan cấp và mạn tính (Vd: viêm gan cấp, xơ gan).
  • Nghiện rượu (nồng độ ferritin tụt giảm nhanh trong giai đoạn cai rượu).
  • Các bệnh lý ác tính (Vd: bệnh Hodgkin, bệnh loxêmi).
  • Nhiễm trùng và có tình trạng viêm cấp.
  • Bệnh lý viêm mạn tính.
  • Viêm khớp dạng thấp.
  • Nhồi máu cơ tim cấp.
  • Các thiếu máu khác không do thiếu sắt (Vd: thiếu máu nguyên hồng cầu [megaloblastic], tan máu, nguyên bào sắt [sideroblastic, bệnh thiếu máu hồng cầu vùng biển hay bệnh thalassemi, hồng cầu hình cầu [spherocytosis).
  • Tăng gánh sắt (Vd: lắng đọng hemosiderin tại các mô trong cơ thể [hemosiderosis), nhiệm thiết huyết tố [hemochromatosis]).
  • Cường giáp.
  • Bệnh thận mạn giai đoạn cuối: Các giá trị ferritin máu > 1000 mg/L không phải quá hiếm gặp. Giá trị < 200 mg/L là một dấu hiệu đặc hiệu gợi ý tình trạng thiếu hụt sắt ở các BN này.
  • Đa hồng cầu tiên phát.
  • Ung thư biểu mô tế bào tận do chảy máu trong u.

Giảm nồng độ ferritin máu

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

  • Phẫu thuật đường tiêu hoá.
  • Lọc máu (hernodialysis).
  • Bệnh lý ruột do viêm (inflammatory bowel disease).
  • Thiếu máu do thiếu sắt.
  • Suy dinh dưỡng
  • Mất máu do kinh nguyệt.
  • Có thai.

Các yếu tố góp phần làm thay đổi kết quả xét nghiệm

Nồng độ ferritin máu tăng theo tuổi. Các kết quả cho giá trị tăng cao ở cả nam và nữ trong độ tuổi hoạt động tình dục. Ở trẻ nhỏ, sau một giai đoạn tăng tạm thời xảy ra vài ngày sau đẻ, nồng độ này giảm thấp xuống trong năm đầu của trẻ và mức tương tự ở cả trẻ nam và nữ.

Có tình trạng giao động lớn về giá trị bình thường ở nam (từ 60 đến 300 ng/L) so với giá trị binh thường ở nữ (từ 30 đến 3150 mg/L). Sau tuổi mãn kinh nồng độ ferritin của nam và nữ tương đương nhau.

Giá trị nồng độ ferritin sẽ bị hạ thấp giả tạo trong trường hợp mẫu bệnh phẩm bị vỡ hồng cầu.

Tăng giả tạo nồng độ feritin máu có thể xảy ra khi:

  • Dùng các chất bổ sung sắt và thức ăn có chứa hàm lượng sắt cao.
  • Sau khi truyền máu.
  • Sau khi dùng chất đồng vị phóng xạ để chụp xạ hình.
  • Huyết thanh có nồng độ lipid cao.
  • Ở các phụ nữ dùng thuốc ngừa thai uống.
  • Advertisement

Lợi ích của xét nghiệm định lượng nồng độ ferritin máu

1. XN hữu ích được sử dụng để chẩn đoán phân biệt các loại thiếu máu khi phối hợp định lượng nồng độ ferritin với xác định nồng độ sắt và khả năng gắn sắt toàn thể. Nồng độ ferritin bị hạ thấp < 15 ng/L là dấu hiệu đặc trưng cho tình trạng thiếu máu do thiếu sắt.

2. XN hữu ích để chẩn đoán sớm tình trạng thiếu máu do thiếu sắt và theo dõi đáp ứng điều trị bổ sung sắt. Giảm thấp nồng độ ferritin máu là dấu hiệu sớm nhất chứng tỏ có tình trạng thiếu hụt sắt song đây cũng là xét nghiệm trở lại giá trị bình thường xảy ra cuối cùng tới khi làm đầy hữu hiệu kho dự trữ sát trong cơ thể ở các đối tượng được điều trị bổ sung sắt.

3. Có thể sử dụng XN định lượng nồng độ ferritin để sàng lọc các đối tượng được coi là có nguy cơ cao bị thiếu hụt sắt (phụ nữ trẻ tuổi, người ăn chay, người béo phì, trẻ đẻ non và trẻ nhẹ cân khi sinh) do XN này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao để chẩn đoán tình trạng thiếu sắt ở các BN thiếu máu. Giảm nồng độ ferritin máu là dấu hiệu đầu tiên của tình trạng thiếu sắt và là dấu hiệu trở về giá trị bình thường muộn nhất sau khi điều trị bổ sung sắt cho BN

4. XN có thể được sử dụng để chẩn đoán và theo dõi trạng thái tải sắt trong một số tình trạng bệnh lý:

  • Theo dõi trạng thái tải sắt ở các bệnh nhân có bệnh thận mạn được lọc máu hoặc chưa được lọc máu.
  • Phát hiện tình trạng quá tải sắt và theo dõi đáp ứng điều trị ở các BN bị nhiễm thiết huyết tố (hemochromatosis): ở BN bị nhiễm thiết huyết tổ, nồng độ ferritin huyết thanh tăng rất cao có thể > 1000 Hg/L và đôi khi có thể đạt tới giá trị> 10.000 mg/L.

Các cảnh báo lâm sàng

  • Cần điều trị tình trạng thiếu máu do thiếu sắt bằng sulfat sắt (ferrous sulfat) liên tục trong 3 – 6 tháng ngay cả khi nồng độ hemoglobin đã trở lại mức bình thường. Điều trị này cho phép làm đầy trở lại kho dự trữ ferritin của cơ thể.
  • Dùng vitamin C giúp làm tăng khả năng hấp thu sắt trong cơ thể.
  • Nồng độ ferritin có thể trong giới hạn bình thường (hoặc thậm chí tăng cao) trong các bệnh lý ác tính, bệnh gan, và tình trạng viêm. Đối với các trường hợp nghi vấn có thể chỉ định nhuộm tim sắt trong tủy xương để loại trừ tình trạng thiếu hụt sắt.
  • Đánh giá độ bão hòa transferrin (transferrin saturation) là một test nhậy hơn để phát hiện sớm tình trạng quá tải sắt ở các bệnh nhân bị nhiem thiệt huyết tố.
  • Tỷ lệ ferritin huyết thanh (tính theo ng/mL) ALT (tính theo IU/L) > 10 ở các BN bị thiếu máu hồng cầu vùng biển (thalassemia) có tăng gánh sắt song tỷ lệ này thường chi < 2 trong viêm gan do virus. Tỷ lệ nảy giảm đi khi điều trị gặp sắt cho BN có kết quả.

 

Nguồn: “Các xét nghiệm thường quy áp dụng trong thực hành lâm sàng” – do PGS.TS Nguyễn Đạt Anh và Dược sĩ chuyên khoa II Nguyễn Thị Hương biên soạn

Xem tất cả xét nghiệm tại: http://ykhoa.org/category/khoa-hoc/khoa-hoc-can-lam-sang/xet-nghiem/

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu tranphuong

Check Also

[Sản khoa cơ bản số 86] Vàng da sơ sinh

Advertisement Mục tiêu bài giảng Sau khi học xong, sinh viên có khả năng: 1. …