[Xét nghiệm 42] Globulin miễn dịch E (IgE). (Gammalobuline E / Immunoglobulin E)

Advertisement

Nhắc lại sinh lý

Các IgE chủ yếu được niêm mạc đường hô hấp và tiêu hoá tiết ra. Chúng Có đặc tính cố định trên các tướng bào (mastocyte) và bạch cầu ưa bazơ là các tế bào có khả năng giải phóng các chất trung gian hóa học gây dẫn mạch như histamin và serotonin. Như vậy, các IgE là các kháng thể tham gia vào phản ứng loại tăng quá mẫn tức khắc (phản ứng dị ứng và phản ứng tăng mẫn cảm).

Các globulin này không đi qua được hàng rào rau thai và nồng độ IgE trong huyết thanh đạt tới giá trị như ở người lớn khi trẻ 14 tuổi.

Có tình trạng chồng lấp đáng kể trong nồng độ IgE toàn phần giữa các đối tượng dị ứng và không dị ứng vì vậy định lượng nồng độ IgE toàn phần không phải là một XN quá hữu ích như một test sàng lọc các bệnh dị ứng.

Mục đích và chỉ định xét nghiệm

– Được sử dụng như một test dị ứng: XN kháng thể IgE và test bị là các XN về cơ bản có thể dùng thay thế lẫn nhau.

– Được chỉ định đối với một loạt các bệnh ký sinh trùng.

-Để chẩn đoán bệnh đa u tủy xương loại IgE.

-Để chẩn đoán bệnh phổi tăng mẫn cảm do aspergillosis: Nồng độ IgE huyết thanh bình thường có thể giúp loại bỏ chẩn đoán này.

Giá trị bình thường (Xem Bảng 1)

Tăng nồng độ IgE huyết thanh

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

– Các bệnh dị ứng: Chịu tác động của typ dị nguyên, thời gian kích

ứng, sự hiện diện của các triệu chứng, điều trị giải mẫn cảm:

  • Hen phế quản ngoại sinh (ở 60% các bệnh nhân).
  • Viêm da dị ứng (dermatitis).
  • Chàm dị ứng (atopic eczema).
  •  Dị ứng thức ăn và thuốc.
  •  Bệnh sốt cỏ khô (Hay fever).
  • Viêm mũi dị ứng.
  • Advertisement

– Bệnh đa u tủy xương loại IgE.

– Bệnh bọng nước da dạng pemphigus (pemphigoid).

– Viêm quanh động mạch thành nút (periarteritis nodosa).

– Viêm xoang.

– Hội chứng Wiskott-Aldrich.

-Bệnh ký sinh trùng (Vd: nhiễm giun đũa, visceral larva migrans, bệnh giun móc, bệnh nhiễm sán máng, nhiệm năm ecchinococcus).

Giảm nồng độ IgE huyết thanh

Các nguyên nhân chính thường gặp là:

– Thiếu hụt IgE bẩm sinh.

– Dãn mạch thất điều (ataxia-telangiectasia).

– Ung thư biểu mô giai đoạn nặng.

– Không có gammaglobulin máu (agammaglobulin máu).

– Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS).

– Bệnh đa u tủy xương không thuộc loại IgE (non-IgE myeloma).

Các cảnh báo lâm sàng

Một nồng độ IgE huyết thanh bình thường không đủ để loại trừ khả năng bị bệnh dị ứng.

Bệnh nhân hen phế quản ngoại sinh (do di nguyên) có thể có nồng độ IgE huyết thanh hoàn toàn bình thường.

 

Nguồn: “Các xét nghiệm thường quy áp dụng trong thực hành lâm sàng” – do PGS.TS Nguyễn Đạt Anh và Dược sĩ chuyên khoa II Nguyễn Thị Hương biên soạn Xem tất cả xét nghiệm tại: http://ykhoa.org/category/khoa-hoc/khoa-hoc-can-lam-sang/xet-nghiem/

 

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu Phan Trọng Hiếu

Check Also

[Sản khoa cơ bản số 86] Vàng da sơ sinh

Advertisement Mục tiêu bài giảng Sau khi học xong, sinh viên có khả năng: 1. …