[ Bệnh học tim mạch 7] – Đau thắt ngực ổn định

Advertisement

Định nghĩa đau thắt ngực ổn định

Đau thắt ngực ổn định được định nghĩa là đau ngực liên tục được kích hoạt bởi các sự kiện cụ thể, chẳng hạn như gắng sức, stress tâm lý và tiếp xúc với lạnh. Thường giảm trong vòng 20 phút sau khi nghỉ ngơi hoặc sau khi dùng nitrat.

Chẩn đoán đau thắt ngực ổn định

Note:
Đau thắt ngực ổn định luôn có cùng cường độ và tính chất.

Bệnh sử

Bệnh nhân điển hình biểu hiện các cơn khó chịu ở ngực được mô tả là cảm giác đè nén, nghẹt, nặng hoặc căng tức ở ngực.

Khởi phát, diễn tiến và thời gian

Cơn đau bắt đầu từ từ, với cường độ tăng và giảm (tăng-giảm tự nhiên) trongvòng vài phút và thường kéo dài trong 2-5 phút. Nó thường không kéo dài trong 20-30 phút, trừ khi bệnh nhân mắc hội chứng vành cấp.

Vị trí đau

Đau do mạch vành thường được mô tả là khó chịu ở trung tâm sau xương ức, trong đó bệnh nhân có thể định vị được vị trí đau và thường đặt một bàn tay hoặc nắm chặt bàn tay lên xương ức.

Hướng lan

Cơn đau lan đến bất khoanh da nào từ C8 đến T4, thường xuyên nhất là ở vai trái và cánh tay trái (đặc biệt là mặt trụ). Nó cũng có thể lan đến vùng liên sườn, lưng, thượng vị và hàm dưới.

Yếu tố tăng giảm

Các cơn đau thắt ngực được kích thích bằng gắng sức thể chất và cảm xúc và thuyên giảm trong vòng
vài phút bằng cách nghỉ ngơi và nitroglycerin ngậm dưới lưỡi.

Các triệu chứng kèm theo

Đau thắt ngực thường liên quan đến khó thở, đổ mồ hôi, chóng mặt, đau đầu nhẹ và mệt mỏi.

Thăm khám

Khám thực thể thường không có gì ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định khi không có triệu chứng; tuy nhiên, các bác sĩ lâm sàng nên tìm kiếm:
• Các yếu tố nguy cơ quan trọng như tăng huyết áp và đái tháo đường
• Bằng chứng xơ vữa động mạch ở các vị trí khác, chẳng hạn như âm thổi động mạch cảnh và bệnh mạch máu ngoại biên
• Bằng chứng về bệnh van tim và rối loạn chức năng thất trái

Khảo sát

ECG lúc nghỉ

Đó là bình thường giữa các cuộc tấn công và có thể cho thấy bằng chứng của nhồi máu cơ tim trước đó. Trong cơn đau, ST chênh xuống và có thể đảo ngược (hình thái tổn thương) hoặc chênh lên, có hoặc không có đảo ngược sóng T, là gợi ý của thiếu máu cơ tim cục bộ.

ECG gắng sức

Thiếu máu cục bộ không biểu hiện khi nghỉ được phát hiện bằng cách kích thích cơn đau ngực dùng
máy chạy bộ. ST chênh xuống nằm ngang hoặc thấp 1 mm trở lên là dấu hiệu của thiếu máu cục bộ.

Xạ hình

Thallium scan có thể cho thấy các khu vực giảm hấp thu đồng vị phóng xạ bằng cơ tim mạch vành khi
nghỉ hoặc khi gắng sức.

Chụp mạch

Hình dung được vị trí, số lượng và mức độ nghiêm trọng của hẹp động mạch vành và được chỉ định khi
đang xem xét cần tái thông mạch vành.

Điều trị đau thắt ngực ổn định

Phương pháp chung

1. Thay đổi lối sống và kiểm soát các yếu tố nguy cơ đã đề cập trước đó.
2. Đánh giá mức độ và độ nghiêm trọng của xơ vữa động mạch ảnh hưởng đến các cơ quan khác nhau
của cơ thể.

Điều trị bằng thuốc
Advertisement

1. Thuốc chống kết tập tiểu cầu
Nên dùng aspirin liều thấp hoặc clopidogrel (nếu không dung nạp aspirin) cho tất cả bệnh nhân.
2. Tam giác trị liệu:

Nitrates:

• Gây giãn tĩnh mạch và động mạch, do đó làm giảm nhu cầu oxy của cơ tim bằng cách giảm tiền tải
và hậu tải
• Nên dùng glyceryl trinitrate ngậm dưới lưỡi (GTN) trong cơn đau, giảm đau trong vòng 2-3 phút
• Thực hiện dự phòng trước khi hoạt động gắng sức

Chẹn beta:

• Giảm nhu cầu oxy của cơ tim bằng cách giảm nhịp tim và lực co bóp
• Mục đích của trị liệu: giảm đau thắt ngực và thiếu máu cục bộ, và giảm tỷ lệ tử vong và tái nhồi máu
sau nhồi máu cơ tim

Đối kháng kênh canxi:

• Giảm nhu cầu oxy của cơ tim bằng cách giảm huyết áp và co bóp cơ tim

Tái thông mạch vành

Sẽ là thích hợp hơn để bắt đầu điều trị đau thắt ngực ổn định với điều trị bằng
thuốc. Tái thông mạch vành nên được xem xét trong:
• Khả năng gắng sức thấp hoặc thiếu máu cục bộ với tải công việc thấp.
• Khu vực bị ảnh hưởng lớn của cơ tim mạch vành
• Suy chức năng thất trái với phân suất tống máu < 40%
Can thiệp mạch vành qua da chủ yếu được sử dụng ở những bệnh nhân với bệnh liên quan 1 hoặc 2 mạch máu với giải phẫu phù hợp, trong khi đó bắc cầu mạch vành (CABG) chủ yếu sử dụng ở bệnh nhân với bệnh liên quan 3 mạch máu hoặc nhánh trái chính.

Tài liệu tham khảo:

1. Lecturio () Cardiovascular Pathology

2. Bệnh học tim mạch. Bản dịch của Trần Khánh Luân (Đại học Y Dược Huế) và Phan Nguyên Hiếu (Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh)

Mời các bạn đọc tất cả ” Bệnh học lâm sàng ” tại: https://ykhoa.org/category/khoa-hoc/benh-hoc-tim-mach/

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu Dr.ngthao92

Check Also

[Xét nghiệm 49] Glucose máu (Glucose, Glycémie Veineusse / Blood Sugar, Glucose in Whole Blood, Serum, Plasma, Fasting Plasma Glucose)

Advertisement Nhắc lại sinh lý Bình thường glucose máu xuất xứ từ 2 nguồn hoàn …