[Medscape] Sự lo lắng, mệt mỏi ở những phụ nữ bị nhiễm trùng tiểu tái phát

Advertisement

 

Theo những phát hiện từ một nghiên cứu liên quan đến sáu nhóm trọng tâm, lo sợ về việc lạm dụng kháng sinh và thất vọng đối với những bác sĩ kê đơn thuốc tự do là những cảm xúc chính của những phụ nữ mắc bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát (rUTIs).

“Tại phòng khám tiết niệu phục hồi y học vùng chậu cho phụ nữ của chúng tôi tại Cedars – Sinai và tại UCLA, chúng tôi nhìn thấy nhiều phụ nữ được giới thiệu để đánh giá rUTIs đều rất thất vọng đối với việc chăm sóc của họ”, Tiến sĩ Victoria Scott, Trung tâm Y tế Cedars-Sinai, Los Angeles, California, nói với Medscape Medical News.

“Vì vậy, đối với các nhóm trọng tâm này, chúng tôi thấy được cơ hội để khám phá lý do tại sao phụ nữ lại cảm thấy thất vọng về dịch vụ chăm sóc được cung cấp và cố gắng cải thiện chúng”, cô nói thêm.

Các phát hiện từ nghiên cứu đã được công bố trực tuyến vào ngày 01 tháng 09 trên Tạp chí Tiết niệu.

Các tác giả viết: “Cần có các bác sĩ sửa đổi các chiến lược quản lý… và dành nhiều nỗ lực nghiên cứu hơn để cải thiện trong phòng ngừa và điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát mà không dùng kháng sinh, cũng như các chiến lược quản lý giúp trao quyền tốt hơn cho bệnh nhân”.

Sáu nhóm trọng tâm

Bốn hoặc năm người tham gia bao gồm trong mỗi nhóm trong số sáu nhóm trọng tâm – tổng số là 29 phụ nữ. Tất cả người tham gia báo cáo tiền sử của các đợt nhiễm trùng tiểu có triệu chứng đã được chứng minh bằng cấy nước tiểu. Họ đã trải qua ít nhất hai lần nhiễm trùng trong vòng 6 tháng hay ba lần nhiễm trùng trở lên trong vòng 1 năm. Phụ nữ chủ yếu là người da trắng. Hầu hết đã làm việc bán thời gian hoặc toàn thời gian và có bằng đại học.

Từ một phân tích mang tính định tính của tất cả các bảng điểm của nhóm trọng tâm này, nổi bật lên hai chủ đề chính:

  • Tác động tiêu cực của việc dùng thuốc kháng sinh để phòng ngừa và điều trị bệnh rUTIs.
  • Sự phẫn nộ của ngành y tế đối với cách quản lý rUTIs.

Các nhà nghiên cứu đã thấy rằng những người tham gia đã hiểu rõ về những tác động có hại từ việc sử dụng kháng sinh không phù hợp, phần tìm hiểu được từ các nguồn phương tiện truyền thông và internet. Scott và các cộng sự của mình chỉ ra rằng: “Nhiều phụ nữ nói rằng họ đã được kê toa kháng sinh nhiều đến mức đáng ngại và họ sẽ từ chối dùng chúng để phòng ngừa hay điều trị các bệnh nhiễm trùng khác”.

Những mối quan tâm này tập trung vào nguy cơ phát triển khả năng đề kháng kháng sinh và những tác động xấu mà thuốc kháng sinh có thể gây ra đối với hệ vi sinh vật đường tiêu hoá và sinh dục. Một số phụ nữ báo cáo rằng họ đã bị nhiễm Clostridium difficile sau khi dùng kháng sinh; một trong số những bệnh nhân đã phải nhập viện vì nhiễm trùng.

Phụ nữ cũng cho biết họ lo ngại rằng mình đã được dùng kháng sinh không cần thiết đối với các triệu chứng có thể do một bệnh lý hệ niệu – sinh dục khác hơn là do nhiễm trùng tiểu gây ra. Họ cũng cho biết họ cảm thấy bực bội với các bác sĩ đã kê thuốc cho mình, đặc biệt nếu họ cảm thấy bác sĩ đó đã kê đơn thuốc kháng sinh quá mức. Một số đã nhờ đến sự tham vấn của người chuyên môn khác, chẳng hạn như các nhà thảo dược. Các tác giả nhận xét “Mối quan tâm thứ hai được thảo luận bởi những người tham gia là cảm giác bị các bác sĩ phớt lờ”.

Về vấn đề này, những phụ nữ cảm thấy các bác sĩ của họ đã đánh giá thấp gánh nặng mà rUTIS gây ra đối với cuộc sống của họ và tác động bất lợi mà việc nhiễm trùng lặp đi lặp lại gây ra đối với mối quan hệ, công việc và chất lượng sống nói chung của họ. Các điều tra viên viết: “Những nhận thức này đã dẫn đến sự nghi ngờ phổ biến của họ đối với các bác sĩ”. Điều này khiến nhiều phụ nữ nhấn mạnh rằng cộng đồng y tế cần dành nhiều nỗ lực hơn cho việc phát triển các lựa chọn không kháng sinh để phòng ngừa và điều trị UTIs.

Chiến lược quản lý được cải tiến

Khi được hỏi làm thế nào để các bác sĩ có thể cải thiện việc quản lý rUTIs của họ, Scott chia sẻ một số đề xuất. Nguyên tắc cơ bản số một: yêu cầu bệnh nhân làm xét nghiệm phân tích nước tiểu để chắc chắn rằng cô ấy không bị nhiễm trùng tiểu. Scott lưu ý rằng: “Có một nhóm nhỏ bệnh nhân trong số những phụ nữ mắc rUTIs đến với một chẩn đoán rUTI nhưng thực sự không có tài liệu về nhiều hơn một lần cấy nước tiểu dương tính. Như vậy tiền sử đó cho thấy không có rUTI.

Điều bắt buộc là các bác sĩ phải loại trừ được các bệnh lý thường bị chẩn đoán lầm, chẳng hạn như bệnh bàng quang tăng hoạt, là nguyên nhân gây ra các triệu chứng của bệnh nhân. Các triệu chứng của bàng quang tăng hoạt và rUTIs thường chồng chéo lên nhau. Trong khi chờ đợi kết quả từ phân tích tiểu để xác định hoặc loại trừ UTI, phụ nữ trẻ và khỏe mạnh có thể được kê đơn thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), chẳng hạn như naproxen, có thể giúp cải thiện các triệu chứng.

Bời vì nhiễm trùng đường tiểu thường tự khỏi, Scott và những người khác đã phát hiện ra rằng đối với người phụ nữ trẻ, nếu không nói là khoẻ mạnh, chỉ riêng NDAIDs thường có thể giải quyết các triệu chứng của UTI mà không cần sử dụng đến kháng sinh. Đối với các triệu chứng tương đối nghiêm trọng, thuốc giảm đau tiết niệu, chẳng hạn như phenazopyridine (Pyridium), có thể làm dịu niêm mạc của đường tiết niệu và giảm đau. Cystex là một loại thuốc giảm đau tiết niệu không kê đơn mà phụ nữ có thể mua ở bên ngoài, Scott nói thêm.

Nếu thuốc kháng sinh được chỉ định, những thuốc thường được kê đơn cho một đợt viêm bàng quang cấp tính là nitrofurantoin và sulfamethoxazole cộng với trimethoprim (Bactrim). Scott thừa nhận, đối với nhiễm trùng tiểu tái phát, “bệnh nhân phức tạp hơn một chút”. Cô ấy nói rằng “Tôi nghĩ cách tốt nhất là xem lại quá trình cấy nước tiểu trước đây của một phụ nữ và chọn một loại kháng sinh cho thấy độ nhạy tốt trong lần xét nghiệm nước tiểu dương tính gần đây nhất”.

Advertisement

Phòng ngừa bắt đầu bằng các chiến lược hành vi, chẳng hạn như nhịn tiểu sau khi quan hệ tình dục và lau từ trước ra sau sau khi đi tiểu để tránh vi khuẩn trong phân vào niệu đạo. Scott lưu ý rằng: “Bằng chứng cho thấy rằng phụ nữ tiền mãn kinh uống ít nhát 1,5 lít nước mỗi ngày có ít đợt nhiễm trùng tiểu hơn đáng kể”. Cũng có bằng chứng “khá tốt” cho thấy các chất bổ sung Cranberry (không phải nước trái cây) có thể phòng ngừa rUTIs. Sử dụng các chất bổ sung Cranberry được hỗ trợ bởi Hiệp hội Tiết niệu Hoa Kỳ (Khuyến nghị có điều kiện; mức chứng cứ loại C).

Đối với phụ nữ tiền mãn kinh và sau mãn kinh, estrogen âm đạo có thể có hiệu quả. Nó được sử dụng để phòng ngừa UTI được y văn ủng hộ tốt. Mặc dù không được chứng minh bằng các bằng chứng rõ ràng, nhưng một số phụ nữ nhận thấy rằng có các thực phẩm bổ sung như: D-mannose có thể ngăn ngừa hoặc điều trị UTIs bằng cách khiến vi khuẩn bám vào nó thay vì là vào thành bàng quang. Cô lưu ý rằng Probiotic cũng có thể được sử dụng. Cô ấy nói thêm rằng sự sự đồng cảm có thể chữa lành những tổn thương.

Các tác giả nhấn mạnh “Một chủ đề phổ biến ở những phụ nữ hài lòng là cảm giác bác sĩ của họ hiểu vấn đề của họ và có một hệ thống để cho phép chẩn đoán và điều trị nhanh chóng các đợt nhiễm trùng tiểu”.

Họ viết: “[Những thái độ như vậy] nhấn mạnh sự cần thiết phải điều tra những trải nghiệm và nhận thức của mỗi bệnh nhân để cho phép đưa ra quyết định chung liên quan đến việc quản lý rUTIs”

Bình luận thêm

Khi được yêu cầu bình luận về phát hiện này, nhà biên tập, Tiến sĩ Michelle Van Kuiken, Phó giáo sư về Tiết niệu, Đại học California, San Francisco, thừa nhận rằng không may là không có nhiều bằng chứng mạnh mẽ để ủng hộ cho liệu pháp điều trị không kháng sinh đối với việc phòng ngừa rUTI. Cô nói với Medscape Medical News trong một email: “Hướng dẫn của AUA chỉ ra rõ ràng những bằng chứng nào thực sự tồn tại và đưa ra các khuyến nghị cho phù hợp”. Ít nhất một tuyên bố trong hướng dẫn được ủng hộ bởi bằng chứng liên quan đến việc sử dụng hàng ngày các chất bổ sung Cranberry cô đặc, mà Van Kuiken thường khuyến nghị.

Van Kuiken cũng thường xuyên khuyến nghị sử dụng thuốc estrogen cho tất cả phụ nữ sau tiền mãn kinh bị nhiễm trùng tiểu tái phát, mặc dù điều này cũng được AUA ủng hộ sử dụng cho tất cả phụ nữ sau mãn kinh trên cơ sở bằng chứng xác thực. Cô thừa nhận, có một số bằng chứng ủng hộ sử dụng D-mannose, mặc dù chúng không mạnh.

Mặt khác, cô ấy cảm thấy bằng chứng ủng hộ việc sử dụng Probiotic đối với rUTIs rất nghèo nàn và cô ây không thường xuyên khuyên dùng chúng cho chỉ định này. Van Kuiken nói “Tôi nghĩ rằng đối với nhiều phụ nữ những người mắc rUTIs, điều đó có thể khiến cơ thể họ khá suy nhược và khó chịu – nó có thể ảnh hưởng đến kế hoạch du lịch, công việc, và các sự kiện xã hội”.

Cô viết trong bài xã luận của mình rằng “Cho đến khi chúng tôi phát triển các chiến lược chẩn đoán và điều trị tốt hơn, việc xác nhận trải nghiệm và mối quan tâm của phụ nữ với rUTIs trong khi hạn chế sử dụng kháng sinh không cần thiết vẫn là lựa chọn tốt nhất của chúng tôi”.

Scott và Van Kuiken không tiết lộ mối quan hệ tài chính nào liên quan.

 

Nguồn: https://www.medscape.com/viewarticle/960482?src=#vp_1

Bài viết được dịch bởi ykhoa.org – vui lòng không reup khi chưa được cho phép!

Người dịch: Thuỳ Linh

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu thuylinh98

Check Also

[Medscape] Mối bận tâm về biến chủng COVID mới đưa đến lệnh cấm di chuyển tới Mỹ

Advertisement Vào thứ Sáu, Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) đã phân loại một …