Phân loại xẹp phổi: Nguyên nhân, Cơ chế và Biểu hiện trên lâm sàng

Rate this post

1/ Lời mở đầu

Xẹp phổi là tình trạng một phần hoặc toàn bộ nhu mô phổi bị mất khí do các phế nang không còn duy trì được trạng thái giãn nở bình thường mà bị xẹp xuống, dẫn đến giảm thể tích phổi chức năng và làm suy giảm quá trình trao đổi khí giữa phế nang với mao mạch phổi [1].

Hình ảnh minh họa xẹp phổi (Atelectasis) do phế nang không còn duy trì được trạng thái giãn nở bình thường
Hình ảnh minh họa xẹp phổi (Atelectasis) do phế nang không còn duy trì được trạng thái giãn nở bình thường

Trong điều kiện sinh lý bình thường, các phế nang luôn được duy trì mở nhờ áp lực âm trong khoang màng phổi, tính đàn hồi của nhu mô phổi và vai trò của chất hoạt diện phế nang (surfactant) giúp làm giảm sức căng bề mặt [2]. Khi một hoặc nhiều yếu tố này bị rối loạn, không khí trong phế nang có thể bị hấp thu dần vào máu mà không được bổ sung đầy đủ, hoặc nhu mô phổi bị chèn ép, co kéo khiến phế nang mất khả năng giãn nở, từ đó hình thành xẹp phổi.

Dựa vào cơ chế bệnh sinh, xẹp phổi thường được phân thành ba kiểu chính, bao gồm: Xẹp phổi do chèn ép từ bên ngoài, Xẹp phổi do tắc nghẽn đường thở và Xẹp phổi do co kéo hoặc xơ hóa [2,4]. Ngoài ra, trong một số tài liệu hô hấp, xẹp phổi còn được mô tả thêm dưới dạng xẹp phổi do mất hoặc rối loạn chất hoạt diện phế nang, thường gặp trong hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS), trẻ sơ sinh non tháng hoặc các tổn thương phổi lan tỏa. Tuy nhiên, ba kiểu phân chia trên vẫn là các nhóm bệnh lý cốt lõi và thường gặp nhất trong thực hành lâm sàng hằng ngày.

Hình ảnh minh họa 3 kiểu xẹp phổi: (từ trái qua phải) Xẹp phổi do chèn ép từ bên ngoài, Xẹp phổi do tắc nghẽn đường thở và Xẹp phổi do co kéo hoặc xơ hóa
Hình ảnh minh họa 3 kiểu xẹp phổi: (từ trái qua phải) Xẹp phổi do chèn ép từ bên ngoài, Xẹp phổi do tắc nghẽn đường thở và Xẹp phổi do co kéo hoặc xơ hóa

2/ Xẹp phổi do chèn ép từ bên ngoài

Xẹp phổi do chèn ép từ bên ngoài xảy ra khi có một lực cơ học từ bên ngoài nhu mô phổi tác động lên phổi [3]. Tình trạng này thường liên quan đến các bệnh lý của khoang màng phổi, trung thất hoặc các cấu trúc lân cận gây tăng áp lực lên nhu mô phổi.

2.1. Nguyên nhân

Các nguyên nhân thường gặp nhất là tràn dịch màng phổi – khi dịch tích tụ trong khoang màng phổi làm tăng áp lực lên bề mặt phổi; tràn khí màng phổi – khi khí xuất hiện trong khoang màng phổi làm mất áp lực âm sinh lý và đẩy nhu mô phổi xẹp vào trong; tràn máu màng phổi – thường gặp sau chấn thương hoặc phẫu thuật lồng ngực.

Ngoài ra, các khối u trung thất, hạch trung thất to, béo phì mức độ nặng, cơ hoành nâng cao do liệt cơ hoành, chướng bụng hoặc cổ trướng, cũng như tình trạng chèn ép sau phẫu thuật do đau làm hạn chế hô hấp sâu đều có thể dẫn đến xẹp phổi kiểu chèn ép [3].

image 4
Hình X-quang ngực cho thấy tràn khí màng phổi bên trái, biểu hiện bằng vùng tăng sáng ngoại vi và thấy rõ đường màng phổi tạng tách khỏi thành ngực. Phần nhu mô phổi bên trái bị co rút vào trong do mất áp lực âm, gây xẹp phổi do chèn ép từ bên ngoài.

2.2. Cơ chế bệnh sinh

Trong điều kiện bình thường, phổi được duy trì ở trạng thái giãn nở nhờ áp lực âm trong khoang màng phổi. Khi có sự tích tụ bất thường của dịch, khí, máu hoặc khối choán chỗ trong khoang màng phổi hay trung thất, áp lực trong các khoang này tăng lên và làm mất cân bằng áp lực sinh lý.

Kết quả là nhu mô phổi bị đẩy ép từ ngoài vào trong, làm giảm khả năng giãn nở của phổi trong thì hít vào. Khi thể tích phổi giảm, các phế nang bị nén lại, diện tích trao đổi khí giảm và vùng phổi tổn thương dần mất khí, dẫn đến xẹp phổi. Nếu tình trạng chèn ép kéo dài, sự giảm thông khí tại vùng phổi bị tổn thương có thể gây mất cân bằng thông khí–tưới máu, giảm oxy máu và tăng nguy cơ nhiễm trùng thứ phát [2].

2.3. Biểu hiện trên lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào mức độ chèn ép, tốc độ tiến triển và diện tích phổi bị ảnh hưởng. Bệnh nhân thường xuất hiện khó thở, đặc biệt rõ khi vùng phổi xẹp rộng hoặc xảy ra cấp tính. Đau ngực kiểu màng phổi có thể xuất hiện, thường đau tăng khi hít sâu hoặc ho, đặc biệt trong tràn khí màng phổi hoặc viêm màng phổi kèm theo. Người bệnh có thể thở nhanh, tăng công hô hấp, cảm giác tức ngực hoặc không hít sâu được.

Khi khám lâm sàng, có thể nhận thấy giảm di động lồng ngực bên tổn thương, rung thanh giảm. Gõ phổi có thể gõ đục trong trường hợp tràn dịch hoặc tràn máu màng phổi, hoặc gõ vang nếu nguyên nhân là tràn khí màng phổi [6]. Khi nghe phổi, rì rào phế nang giảm rõ hoặc mất hoàn toàn tại vùng bị chèn ép. Trong các trường hợp nặng, bệnh nhân có thể tím môi đầu chi, SpO₂ giảm và xuất hiện dấu hiệu suy hô hấp cần can thiệp khẩn cấp.

3/ Xẹp phổi do tắc nghẽn đường thở

Đây là kiểu xẹp phổi thường gặp nhất trong thực hành lâm sàng, đặc biệt ở bệnh nhân hậu phẫu, bệnh nhân nằm điều trị kéo dài hoặc đang được chăm sóc tại khoa hồi sức tích cực. Tình trạng này xảy ra khi lòng phế quản bị bít tắc hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn, làm không khí không thể đi đến các phế nang ở phía xa vị trí tắc nghẽn, từ đó dẫn đến giảm thông khí và xẹp phổi [2,4].

image 5
Hình minh họa xẹp phổi do tắc nghẽn đường thở, trong đó một dị vật hoặc nút tắc nằm trong lòng phế quản làm cản trở luồng khí đi vào vùng phổi phía xa

3.1. Nguyên nhân

Nguyên nhân thường gặp nhất là nút nhầy hoặc đờm đặc làm bít tắc lòng phế quản, đặc biệt ở những bệnh nhân giảm phản xạ ho hoặc không thể khạc đờm hiệu quả. Ngoài ra, xẹp phổi cũng có thể xảy ra do dị vật đường thở, thường gặp ở trẻ em hoặc bệnh nhân rối loạn ý thức; khối u phế quản phát triển trong lòng đường thở; cục máu đông sau chấn thương hoặc sau thủ thuật; hoặc co thắt phế quản nặng trong các cơn hen hoặc đợt cấp COPD.

Kiểu xẹp phổi này còn thường gặp ở bệnh nhân sau phẫu thuật, đặc biệt phẫu thuật ngực hoặc bụng trên do đau sau mổ làm bệnh nhân thở nông và giảm ho khạc; bệnh nhân nằm lâu, giảm vận động; bệnh nhân hôn mê, giảm ý thức; bệnh nhân thở máy, hen phế quản, giãn phế quản, viêm phế quản mạn.

3.2. Cơ chế bệnh sinh

Nói một cách đơn giản, khi lòng phế quản bị bít tắc, không khí từ bên ngoài không thể đi đến các phế nang ở phía sau vị trí tắc. Tuy nhiên, lượng khí đang có sẵn trong các phế nang vẫn tiếp tục được hấp thu qua màng phế nang–mao mạch vào máu như bình thường [4]. Vì không có khí mới được bổ sung, thể tích khí trong phế nang sẽ giảm dần theo thời gian, làm các phế nang co nhỏ lại và cuối cùng bị xẹp.

Khi một vùng phổi bị xẹp, khu vực đó gần như không còn tham gia vào quá trình thông khí nhưng vẫn có máu đi qua, dẫn đến mất cân bằng thông khí–tưới máu (V/Q) và gây giảm oxy máu. Đồng thời, dịch tiết không được tống ra ngoài sẽ dễ ứ đọng phía sau chỗ tắc, tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, làm tăng nguy cơ viêm phổi hoặc bội nhiễm phổi nếu không được xử trí kịp thời [3].

3.3. Biểu hiện lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào vị trí tắc nghẽn, mức độ tắc và diện tích phổi bị ảnh hưởng. Nếu xẹp phổi xảy ra đột ngột hoặc diện tích lớn, bệnh nhân có thể xuất hiện khó thở rõ, thở nhanh, cảm giác tức ngực, hụt hơi hoặc không thể hít sâu. Trong những trường hợp xẹp phổi nhỏ hoặc tiến triển từ từ, triệu chứng ban đầu có thể kín đáo hơn, chỉ biểu hiện ho yếu, giảm khả năng khạc đờm hoặc mệt khi gắng sức.

Do vùng phổi bị xẹp không tham gia trao đổi khí hiệu quả, bệnh nhân có thể xuất hiện giảm oxy máu, biểu hiện bằng SpO₂ giảm, tím môi, tím đầu chi trong các trường hợp nặng. Nếu có ứ đọng dịch tiết kéo dài hoặc kèm nhiễm trùng, người bệnh có thể sốt, tăng tiết đờm, đờm đổi màu hoặc bạch cầu tăng.

Khi khám lâm sàng, có thể ghi nhận lồng ngực bên tổn thương di động kém hơn, rung thanh giảm, rì rào phế nang giảm hoặc mất tại vùng phổi bị xẹp [5]. Trong một số trường hợp, có thể nghe thấy ran nổ hoặc ran ẩm nếu kèm dịch tiết hoặc bội nhiễm. Nếu vùng xẹp rộng, bệnh nhân có thể xuất hiện tăng công hô hấp, co kéo cơ hô hấp phụ và dấu hiệu suy hô hấp rõ rệt.

4/ Xẹp phổi do co kéo hoặc xơ hóa

Khác với xẹp phổi do chèn ép từ bên ngoài hay do tắc nghẽn đường thở, kiểu xẹp phổi này xuất phát từ tổn thương cấu trúc bên trong chính nhu mô phổi, thường tiến triển từ từ và mang tính mạn tính. Quá trình này thường diễn ra âm thầm, tiến triển từ từ qua nhiều tuần, nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm, nên các triệu chứng ban đầu có thể không rõ ràng và dễ bị bỏ sót

4.1. Nguyên nhân

Nguyên nhân thường gặp nhất là xơ phổi, đặc biệt trong các bệnh phổi mô kẽ mạn tính, làm mô phổi dần bị thay thế bởi mô xơ [3]. Ngoài ra, di chứng lao phổi cũng là nguyên nhân khá phổ biến, khi các ổ lao sau điều trị để lại sẹo xơ và làm biến dạng nhu mô phổi. Những bệnh nhân từng bị viêm phổi nặng, áp xe phổi hoặc nhiễm trùng phổi kéo dài cũng có thể để lại sẹo xơ tại vùng tổn thương. Bên cạnh đó, tổn thương sau xạ trị vùng ngực trong điều trị ung thư, hoặc hít phải hóa chất độc, khói bụi nghề nghiệp, asbestos, silica trong thời gian dài cũng có thể gây tổn thương mô kẽ phổi và dẫn đến xơ hóa.

4.2. Cơ chế bệnh sinh

Khi nhu mô phổi bị tổn thương kéo dài do viêm, nhiễm trùng hoặc các tác nhân độc hại, mô phổi bình thường sẽ dần bị thay thế bằng mô xơ hoặc mô sẹo. Khác với mô phổi khỏe mạnh có tính đàn hồi tốt, mô xơ thường cứng và có xu hướng co rút theo thời gian. Sự co kéo liên tục này làm nhu mô phổi bị thu nhỏ lại, giảm khả năng giãn nở trong thì hít vào, đồng thời kéo các phế nang xung quanh xẹp xuống. Kết quả là thể tích phổi giảm dần, diện tích trao đổi khí bị thu hẹp và hình thành xẹp phổi, có thể khu trú ở một vùng hoặc lan rộng ra nhiều vùng của phổi [5,6].

image 6
Hình minh họa xơ phổi, cho thấy nhu mô phổi bị sẹo xơ và co rút, làm phổi trở nên cứng và giảm khả năng giãn nở. Ở mức vi thể, thành phế nang dày lên, làm giảm trao đổi khí và lâu dài có thể gây xẹp phổi do co kéo.

4.3. Biểu hiện lâm sàng

Do tiến triển thường chậm và kéo dài, triệu chứng ban đầu có thể khá âm thầm. Bệnh nhân thường xuất hiện khó thở mạn tính, lúc đầu chỉ khi gắng sức nhưng dần dần có thể khó thở cả khi nghỉ [2]. Người bệnh thường cảm thấy mệt nhanh, giảm khả năng lao động hoặc vận động, leo cầu thang hoặc đi bộ xa dễ hụt hơi. Ho khan kéo dài là triệu chứng khá điển hình, thường ít đờm và kéo dài nhiều tuần đến nhiều tháng.

Khi khám lâm sàng, có thể ghi nhận lồng ngực di động kém, đặc biệt ở vùng phổi tổn thương do phổi mất tính đàn hồi. Khi nghe phổi, bác sĩ có thể nghe thấy ran nổ mịn ở cuối thì hít vào—một dấu hiệu khá điển hình của tổn thương mô kẽ và xơ hóa phổi. Ở những trường hợp tiến triển nặng, bệnh nhân có thể xuất hiện giảm oxy máu mạn tính, tím môi đầu chi, ngón tay dùi trống và các dấu hiệu suy hô hấp tiến triển do diện tích trao đổi khí ngày càng giảm. Khác với hai kiểu xẹp phổi trước, xẹp phổi do xơ hóa thường hồi phục kém hơn và điều trị chủ yếu tập trung vào kiểm soát bệnh lý nền, làm chậm tiến triển của quá trình xơ hóa và hỗ trợ hô hấp lâu dài [5].

5/ Kết luận

image 7
Hình ảnh tổng quan về nguyên nhân và cơ chế các kiểu xẹp phổi

Xẹp phổi gây suy giảm thông khí, giảm trao đổi khí và ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng hô hấp của người bệnh. Dù biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, xẹp phổi chủ yếu được hình thành qua ba cơ chế chính: chèn ép từ bên ngoài, tắc nghẽn đường thở và co kéo do xơ hóa nhu mô phổi. Mỗi cơ chế đều có nguyên nhân, đặc điểm lâm sàng và hướng xử trí riêng. Vì vậy, việc hiểu rõ từng kiểu xẹp phổi có ý nghĩa quan trọng trong nhận diện sớm, chẩn đoán đúng nguyên nhân, can thiệp kịp thời và nâng cao hiệu quả điều trị, từ đó góp phần cải thiện tiên lượng và chất lượng sống cho người bệnh.

—————————————-

Nguồn tài liệu tham khảo:

1/ Bộ môn Nội – Trường Đại học Y Hà Nội. (2022). Bệnh học nội khoa (Tập 1, tái bản lần thứ 3). Nhà xuất bản Y học.

2/ Broaddus, V. C., Ernst, J. D., King, T. E., Lazarus, S. C., Sarmiento, K. F., Schnapp, L. M., & Gotway, M. B. (2022). Murray & Nadel’s textbook of respiratory medicine (7th ed.). Elsevier.

3/ Phạm Nguyễn Vinh, & Nguyễn Gia Bình. (2023). Hồi sức cấp cứu và chống độc (Tái bản cập nhật). Nhà xuất bản Y học.

4/ Meyer, K. C., Raghu, G., Baughman, R. P., Brown, K. K., Costabel, U., du Bois, R. M., Drent, M., & American Thoracic Society. (2022). An official American Thoracic Society clinical practice guideline: Interstitial lung disease and pulmonary fibrosis evaluation and management. American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine, 206(8), e44–e68.

5/ Hall, J. E. (2021). Guyton and Hall textbook of medical physiology (14th ed.). Elsevier.

6/ Nguyễn Viết Nhung. (2021). Bệnh học hô hấp lâm sàng (Tái bản lần thứ 2). Nhà xuất bản Y học.

Advertisement

Giới thiệu Duy Kha

Xin chào, mình là Duy Kha Là Admin Page Y Khoa Remix.

Xem các bài tương tự

IMG 5297

Táo bón mạn tính: Khi triệu chứng “đời thường” ẩn chứa những cảnh báo bệnh lý nguy hiểm

Táo bón là một trong những rối loạn tiêu hóa phổ biến nhất trong cộng …