[Sinh lý thú vị số 43] Chứng kém hấp thu Carbohydrate (không dung nạp đường Lactose)

Advertisement

Hà là một học sinh 21 tuổi tại một trường kỹ thuật uy tín. Trong 6 tháng qua, cô trải qua vài cơn đau bụng và chuột rút nặng, theo sau là tiêu chảy. Đầu tiên, cô nghĩ rằng do căng thẳng về những đòi hỏi chương trình học thuật của cô. Tuy nhiên, cô chú ý rằng các triệu chứng xuất hiện khoảng 1h sau khi cô uống sữu hoặc ăn kem. Trong một lần về thăm nhà, Hà đề cập triệu chứng với mẹ cô, người kêu lên “Con không biết rằng ba con và mẹ chưa bao giờ có thể uống sữa được à?”

Hà được kiểm tra bởi bác sĩ, người thấy rằng cô có một sức khỏe tuyệt vời. Bởi vì triệu chứng của Hà là tạm thời liên quan với tiêu hóa sữa, bác sĩ cho kiểm tra lactose-H2 breath, xác nhận rằng Hà bị lactose intolerance. Osmolar gap trong phân của cô đo được và nó cao. Càng xác định hơn cho chẩn đoán, Hà từ bỏ việc uống sữa và không còn các triệu chứng nữa.

1, Carbohydrate ăn vào hằng ngày được tiêu hóa như thế nào trong đường ruột? Vai trò của nước bọt, dịch tụy và enzyme boder brush niêm mạc ruột non trong tiêu hóa carbohydrate? 3 monosaccharides cuối cùng được tạo ra trong các bước tiêu hóa là?

Carbohydrates ăn vào hằng ngày bao gồm tinh bột, disaccharides, monosaccharides và cellulose (không thể tiêu hóa). Trong những chất trên, chỉ có monosaccharides (glucose, galactose, fructose) được hấp thu. Thật vậy, để hấp thu, tinh bột và disaccharides đầu tiên phải được tiêu hóa thành glucose, galactose hoặc fructose.

Tinh bột được tiêu hóa thành disaccharides (alpha-dextrins, maltose và maltotriose) bởi alpha-amylase ở nước bọt và dịch tụy. Disaccharides khác, hiện diện trong bữa ăn, bao gồm trehalose, lactose, sucrose. Thật vậy, disaccharides hoặc tạo ra từ sự tiêu hóa của tinh bột hoặc được ăn vào từ thức ăn. Disaccharide sau đó được tiêu hóa thành monosaccharides bởi enzyme vị trí ở brush border của tế bào niêm mạc ruột non. Alpha-dextrins, maltose và maltotriose được tiêu hóa thành glucose bởi alpha-dextrinase, maltase, sucrase tương ứng. Trehalose được tiêu hóa thành glucose bởi trehalose. Lactose được tiêu hóa thành glucose và galactose bởi lactase. Sucrose được tiêu hóa thành glucose và fructose bởi sucrase. Thật vậy, ba monosaccharide tạo ra sau tất cả các quá trình tiêu hóa là glucose, galactose, fructose.

2, Carbohydrate ăn vào được hấp thu từ lòng ruột vào trong máu như thế nào? Vẽ tế bào biểu mô ruột non cho thấy vận chuyển thích hợp ở màng apical và màng basolateral.

Monosaccharides chỉ hấp thu dạng carbohydrate. Tế bào biểum ô của ruột non với màng apical tiếp giáp với lòng ruột, màng basolateral tiếp giáp với máu. Hấp thu monosaccharides quá trình gồm hai bước (1) vận chuyển đầu tiên qua màng apical (2) trình tự vận chuyển qua màng basolateral. Glucose và galactose quá trình khác so với fructose, như sau: Glucose và galactose vào trong tế bào xuyên qua màng apical bởi Na+-dependent cotransport (Na+-glucose và Na+-galactose đồng vận chuyển). Đồng vận chuyển phụ thuộc Na+ ở màng tế bào apical (Sự chênh lệch Na+ được duy trì bởi bơm Na+-K+ ATPase – ở màng basolateral). Glucose và galactose sau đó rời khỏi tế bào qua màng basolateral bởi khuếch tán có hỗ trợ. Ngược lại, fructose vào và rời khỏi tế bào bởi khuếch tán có hỗ trợ.

 

3, Mô tả các bước liên quan đến tiêu hóa và hấp thu lactose

Lactose (một disaccharide ăn vào nó hiện diện trong sữa) được tiêu hóa bởi lactase (enzyme border brush) thành glucose và galactose. Glucose và galactose sau đó được hấp thu bởi quá trình hai bước trong câu 2: đồng vận chuyển phụ thuộc Na+ qua màng apical, sau đó là khuếch tán có hỗ trợ qua màng basolateral.

4, Trình bày cơ chế cho không dung nạp đường lactose (lactose intolerance)

Lactose không thể hấp thu bởi tế bào biểu mô ruột non. Disaccharide, đầu tiên nó phải tiêu hóa thành những monosaccharide hấp thu được (glucose, galactose). Thật vậy, lactose intolerance là kết quả của khiếm khuyết trong tiêu hóa lactose thành monosaccharides (thiếu lactase) hoặc từ khiếm khuyết chất vận chuyển monosaccharide. Chú ý, tuy nhiên, sự khiếm khuyết chất vận chuyển glucose, galactose sẽ tạo ra nonspecific intolerance với di – và monosaccharides. Candice bị thiếu lactase (hoặc quá ít lactase hoặc là không có luôn). Bởi vì sự thiếu đó, cô không thể tiêu hóa lactose hằng ngày trong sữa uống vào để hấp thu monosaccharide glucose và galactose.

5, Tại sao không dung nạp đường lactose => gây tiêu chảy?

Lactose intolerance gây tiêu chảy bởi vì lactose không tiêu hóa => không hấp thu. Một số lactose bị lên men bởi vi khuẩn ruột già thành acid lactin, methane và H2. Lactose không tiêu hóa và acid lactic sau đó tạo ra áp suất thẩm thấu các chất tan trong lòng ruột => kéo nước vào => tiêu chảy thẩm thấu. (Khi lactose được tiêu hóa bình thường thành glucose và galactose => monosaccharides hoạt động tạo áp suất thẩmt hấu được hấp thu => không ở lòng ruột.

6, Kiểm tra lactose-H2 breath (liên quan đo khí H2 trong hơi thở sau khi ăn 50 gam lactose) là dương tính. Tại sao?

Kiểm tra dương tính bởi vì lactose không tiêu hóa trong lòng ruột được lên men bởi vi khuẩn ruột già. Khí H2 được hấp thu vào trong dòng máu và thải ra ngoài bởi phổi, nó được xác định trong kiểm tra.

7, Osmolar gap trong phân là gì? Tại sao osmolar gap trong phân của cô lại cao?

Osmolar gap trong phân có thể là thuật ngữ không quen thuộc đề cập đến chất tan không đo được trong phân. Định nghĩa hữu ích để hiểu cơ chế sinh lý bệnh của tiêu chảy. Kiểm tra đo tổng áp suất thẩm thấu và nồng độ Na+, K+ trong mẫu phân. Tổng lượng Na+ và K+ nhân 2 (lượng anion cân bằng, thường Cl-, HCO3- đi kèm với cations). Sự chênh lệch giữa tổng áp suất thẩm thấu trong phân và tổng hai lần nồng độ Na+, K+ là osmolar gap trong phân. Osmolar gap trong phân hiện diện các chất tan không đo được. Osmolar gap trong phân của cô cao bởi vì lactose không hấp thu đóng vai trò trong tổng áp suất thẩm thấu của phân.

8, Điều trị được đề nghị là gì?

Điều trị đơn giản, tránh uống sữa – chứa lactose, không thể hấp thu lactose. Nếu cô không muốn bỏ sữa, cô phải bổ sung lactase.

Case được dịch từ sách: Physiology cases and problems
Tham khảo bản dịch của: NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ – Khoa Y ĐHQG TP.HCM

 

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu khanhlinh29

Mình là Khánh Linh, sinh viên Y khoa. Hi vọng những bài đăng của mình có thể giúp ích cho mọi người!

Check Also

[Sinh lý thú vị số 52] Adrenocortical excess: cushing’s syndrome -Hội chứng Cushing

Advertisement Hải là một nhân viên 48 tuổi của công ty vận chuyển địa phương. …