[Vi sinh lâm sàng 26] Các loại virus ADN khác.

Advertisement

Chúng tôi đã mô tả chi tiết 2 virus H trong nhóm HHAPPPy ADN: herpesviridae vàhepatitisviridae. Bây giờ, chúng ta sẽ nói ngắn gọn về các loại còn lại: poxviridae, papovaviridae, adenoviridae và parvoviridae.
POXVIRIDAE
28.1. Poxviridae là virus có cấu trúc phức tạp nhất mà chúng ta từng biết về virus. Nó có hình dạng giống như viên gạch hình hộp (box) chữ nhật, POX trong box, và ở trung tâm của virus có bộ gen ADN lớn phức tạp đang mã hóa cho hàng trăm loại protein. ADN được sắp đặt thành dạng hình bầu dục cùng với các protein cấu trúc, được bao xung quanh bởi 2 lớp vỏ ngoài. Virus này sở hữu rất nhiều loại enzym và, không giống như các loại virus ADN khác, chúng thực hiện sự sao chép ở trong tế bào chất.

Đậu Mùa (Smallpox)
Poxviridae KHÔNG gây bệnh thủy đậu (chickenpox). Thủy đậu được gây ra bởi herpesviridae varicella – zoster. Thùng thư (pox-box) to lớn và phức tạp này không phải là con gà (chicken)! Poxviridae đã từng gây ra bệnh đậu mùa. Ủa ?! Tại sao chúng ta lại nói là đã từng gây ra bệnh đậu mùa ? Trả lời: Lần cuối xảy ra bệnh đậu mùa là vào năm 1977 và người ta cho rằng virus này đã được loại trừ khỏi trái đất!!! Pox đã được gói lại trong cái hộp và được chôn sâu. Trong hơn 3000 năm nay, loài virus đã lây truyền qua đường hô hấp, gây ra các tổn thương mụn nước ở da và gây tử vong. Một chương tình phối hợp tiêm chủng và giám sát được tiến hành bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã chấm dứt được “tên bạo chúa” này.
Vaccin Và Tại Sao Nó Lại Có Hiệu Quả
1) Vaccin được phát triển để gây ra sự miễn dịch bền vững, kéo dài. Vaccin có chứa virus Vaccinia, một loại virus mất độc tính thuộc họ poxviridae, để gây ra sự miễn dịch đối với poxviridae có độc tính.
2) Bệnh đậu mùa chỉ xảy ra ở người. Không có loài động nào là nơi cư trú để virus có thể ẩn náo và bảo vệ chúng.
3) Tất cả virus thuộc họ poxviridae đều gây ra bệnh đậu mùa rõ ràng về mặt lâm sàng. Virus không thể ẩn nấp như là một nhiễm khuẩn không triệu chứng hoặc ở trạng thái tiềm tàng, mỗi cuộc tấn công của bệnh đậu mùa đều rất rõ ràng. Hiện nay, có một mối lo ngại đó là bệnh đậu mùa được sử dụng như một món vũ khí chống lại con người, khi mà có rất nhiều người trên thế giới không có tính miễn dịch đề kháng lại đậu mùa. Đây là ví dụ điển hình cho khủng bố sinh học. Chính vấn nạn này đã làm cho một số bộ phận (quân đội, đội đáp ứng nhanh, các chuyên gia y tế cộng đồng) bắt đầu thực hiện việc tiêm chủng trở lại.
Bệnh đậu mùa là một trong những mối đe dọa sinh học nghiêm trọng nhất mà hiện nay chúng ta gặp phải, bởi vì:
1. Việc chủng ngừa định kỳ đã chấm dứt ở Mỹ vào năm 1977, vì thế hầu như mọi người cũng đã mất đi tính miễn dịch đối với virus hoặc có người chưa bao giờ được chủng ngừa. Bệnh đậu mùa có tính lây nhiễm rất cao, chúng lây lan trực tiếp từ người sang người thông qua giọt nước lớn từ đường hô hấp (trường hợp lây qua sol khí
* là rất hiếm). Sự lây truyền qua các giọt nước khi ho hay hắt hơi (droplet transmission) xảy ra khi các hạt nước tương đối lớn (> 5μ) có chứa mầm virus đậu mùa được bắn ra ở những người đã bị lây nhiễm qua một khoảng cách tương đối ngắn (1 – 2m) và bám vào lớp niêm mạc (thường ở miệng và mũi) của người khác hoặc bám vào các đồ vật xung quanh. Sự lây truyền qua sol khí (aerosol transmission) xảy ra khi các giọt nước nhỏ (< 5μ) có chứa virus đậu mùa, những sol khí này có thể lơ lửng ở không khí trong một thời gian dài và có thể di chuyển ở một khoảng các dài, được bắn ra từ những người đã bị lây nhiễm và được những người khác hít phải. Sol khí thường được tạo ra bởi ho.
2. Không có phương pháp điều trị bệnh đậu mùa. Về mặt lịch sử, có khoảng 30% bệnh nhân đã tử vong và những người còn sống bị những vết sẹo trong suốt cuộc đời (các tổn thương đậu mùa đóng vảy, vỡ ra và để lại các vết sẹo).
3. Mặc dù, hiện nay trên thế giới chỉ có 2 kho chứa virus đậu mùa được cấp phép – ở CDC (Cơ quan kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ) và ở Novosibirsk, Nga. Có nhiều mối quan ngại hệ trọng cho rằng còn có rất nhiều kho chứa virus đậu mùa bí mật ở nhiều quốc gia khác. Bệnh lý này có thể bị nhầm lẫn với bệnh thủy đậu (được mô tả ở
Chương 27), nhưng có một số khác biệt chính đã được tóm tắt lại ở bảng bên dưới. Các khác biệt chủ yếu đó là những mụn mủ đậu mùa (giống như bệnh thủy đậu cũng trông giống như giọt sương trên cánh hoa hồng) tiến triển giống nhau ở tất cả các giai đoạn, là những tổn thương đồng bộ (synchronous lesion), thường xuất hiện dày đặc nhất ở khuôn mặt và lòng bàn tay (lan rộng hướng tâm) và loét sâu hơn vào trong da. Thủy đậu thường xuất hiện nhẹ nhàng hơn, các mụn mủ dày đặc và các tổn thương thường bắt đầu ở khuôn mặt và thân mình, sau đó lan rộng ra khắp toàn bộ cơ thể, bao gồm cả ở lớp niêm mạc.

Bạn Có Biết ?
Đậu mùa là loại bệnh lý đầu tiên mà nhờ đó đã cho ra đời vaccin. Edward Jenner đã phát triển vaccin vào cuối thể kỷ thứ 19 sau khi đã quan sát rằng những người vắt sữa bò không bị mắc bệnh. Những người vắt sữa bò đã bị phơi nhiễm với đậu bò (cowpox), một loại bệnh lý tương tự gây ảnh hưởng lên những con bò sữa. Những người vắt sữa bò đã phát triển các kháng thể chống lại bệnh đậu bò, nhờ đó đã bảo vệ chéo với bệnh đậu mùa. Hiện nay, vaccin này đã được tạo ra từ một loại virus không liên quan, được gọi là vaccinia. Không một ai chắc chắn về hiệu quả khi sử dụng vaccinia để thay thế cho đậu bò trong việc tiêm chủng, nhưng vi sinh học phân tử hiện đại đã chỉ ra rằng virus đậu bò và virus vaccinia là những virus rất khác nhau. Thêm một điều nữa: Không một ai tin vào Jenner vào thời điểm đó, vì thế ông phải tự cấp tiền cho công việc và sự công bố của ông.
U Mềm Lây (Molluscum Contagiosum)
28.2. Bạn nốt ruồi (mole)! Bạn chất bã (scum)! u mềm (molluscum). Virus đậu mùa chính là nguyên nhân gây ra những tổn thương nhỏ này, có đường kính 1 – 2mm, những tổn thương này
có màu trắng và lõm ở trung tâm (nằm bên phải của nốt ruồi trong hình vẽ). Chúng tương tự như những sùi mào gà kèm theo sự tăng sinh lành tính của các tế bào biểu mô. Có lẽ bạn sẽ nhìn thấy những tổn thương này ở những bệnh nhân AIDS.

PAPOVAVIRIDAE
Có 3 thành viên thuộc họ PA PO VA VIRIDAE:

PA: Virus PApilloma gây ra sùi mào gà (wart) và ung thư cổ tử cung ở người.
PO: Virus POlyoma có 2 thành viên: virus BK và JC ở người.
VA: Virus Simian VAcuolating không lây nhiễm cho người.
PAPOVAVIRIDAE:
Với những loại virus này hãy nghĩ vễ chữ O.
O về chuỗi vòng kép ADN (lớp vỏ capsid trần đa diện đều)
O về xung bao quanh sùi mào gà

Advertisement
O về xung quanh cổ tử củng
Virus Papilloma
Các chủng khác nhau của virus palilloma có thể gây ra sùi mào gà và ung thư cổ tử cung
Sùi mào gà
Có rất nhiều chủng virus papilloma có ái tính với các tế bào biểu mô vảy (squamous epithelial cell), và các chủng khác nhau thì có ái tính với các vùng giải phẫu khác nhau: sùi mào gà thông thường, sùi mào gà sinh dục và sùi mào gà thanh quản. Sùi mào gà là sự tăng sinh lành tính của các tế bào biểu mô vảy keratin. Hầu hết chúng sẽ tự lui dần một cách tự nhiên trong vòng 1 – 2 năm. Vì những lý do chưa rõ nào đó mà có rất nhiều người không hề tiến triển các sùi mào gà mặc dù trong tự nhiên ở đâu cũng có virus papilloma. Có lẽ những cá thể không bị ảnh hưởng này thì virus vẫn còn ở thể ẩn hoặc được kiểm soát một cách có hiệu quả bởi hệ thống miễn dịch của túc chủ.
Ung Thư Cổ Tử Cung
Chứng loạn sản (dysplasia) và ung thư cổ tử cung đều có liên quan đến hoạt động tình dục và sự phơi nhiễm trước đó với một số chủng của virus papilloma gây bệnh ở người (type 16 đến 18). Nghĩ về virus PAPilloma và PAP smear (phết tế bào cổ tử cung), một loại xét nghiệm dùng để phát hiện sự thay đổi của các tế bào loạn sản ở giai đoạn đầu. Pap test giúp cho việc phát hiện sớm chứng loạn sản của cổ tử cung ở giai đoạn đầu và làm giảm đáng kể quá trình tiến triển thành ung thư cổ tử cung. Có một loại vaccin phòng ngừa virus papilloma đã được FDA cấp phép. Vaccin này có hiệu quả chống lại HPV type 16 và 18, gây ra khoảng 70% ung thư cổ tử cung; và chống lại HPV type 6 và 11, gây ra khoảng 90% sùi mào gà sinh dục. Vaccin có hiệu quả 98% trong việc làm giảm ung thư tế bào vảy ở cổ tử cung, ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma) và tiền thân của chúng. Loại vaccin này (và vaccin viêm gan B, có thể ngăn chặn ung thư tế bào gan) sẽ là loại vaccin đầu tiên đại diện cho vaccin ngăn ngừa ung thư.
Virus Polyoma
Có hai loại virus polyoma lây nhiễm cho người. Chúng đã được tên theo tên viết tắt của bệnh nhân khi mà virus được phát hiện từ những người này. Cả hai đều khá phổ biến và đã lây nhiễm trên toàn thế giới từ giai đoạn rất sớm.

BK Polyomavirus
1) Chúng phổ biến như là Burger King (một chuỗi cửa hàng ăn nhanh bán hamburger) trên mỗi lối ra ở đường cao tốc.
2) Gây ra nhiễm khuẩn nhẹ và không triệu chứng ở trẻ em.
3) virus BK là loại virus chủ yếu gây ra bệnh lý có triệu chứng ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Các loại bệnh lý chủ yếu được gây ra bởi virus BK đó là viêm thận và hẹp niệu đạo (ureteral stenosis) ở bệnh nhân ghép thận và viêm bàng quang thể xuất huyết (hemorrhagic cystittis) ở những người được ghép tủy xương.
JC Polyomavirus
28.3. JC P
olyomavirus cũng tương tự như BK Polyomavirus nhưng chúng còn gây ra một loại nhiễm khuẩn cơ hội ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch được gọi là chất trắng đa ổ tiến triển (Progressive Multifocal Leukoencephalopathy, PML). Ở loại bệnh lý này, bệnh nhân tiến triển các tổn thương ở chất trắng trong hệ thần kinh trung ương. Hãy hình dung những người mua sắm tại cửa hàng J.C. Penney bị mắc chứng PML, họ đang đi loanh quanh cửa hàng kèm theo mất trí nhớ, lời nói không mạch lạc và mất sự phối hợp vận động.
ADENOVIRIDAE
Họ ADENoviridae gây ra sự nhiễm khuẩn ở đường hô hấp trên. Hãy tưởng tượng một căn nhà nhỏ (A DEN) chứa đầy trẻ em đang bị ho và chảy mũi. Các báo cáo ước tính rằng có hơn 10% các nhiễm khuẩn đường hô hấp ở trẻ em được gây ra bởi các chủng của adenoviridae, và hầu hết tất cả người lớn đều có dấu hiệu huyết thanh học về sự phơi nhiễm từ trước. Nhiễm khuẩn có thể dẫn đến viêm mũi, viêm kết mạc, viêm họng và ho. Đôi khi chúng có thể tiến triển xuống đường hô hấp dưới và gây ra viêm phổi ở trẻ em.
Những nguyên nhân thông thường nhất gây ra nhiễm khuẩn đường hô hấp ở trẻ em: RSV, metapneumovirus, parainfluenza, rhinovirus và adenovirus. Ngoài ra, còn có
enteric adenovirus, chúng được đặt như vậy là do loại virus này có thể gây ra bệnh lý tiêu chảy. Trong thực tế đây là loại virus phổ bến đứng thứ hai trong việc gây ra bệnh lý tiêu chảy địa phương (endemic diarrheal illness) ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trên toàn thế giới.

PARVOVIRIDAE
28.4. PARvovirus là loại virus đa diện đều có kích thước nhỏ nhất và có một chuỗi đơn ADN. Chúng đơn giản như là hố ParONE trên sân golf!

Nó gây ra một loại bệnh lý ở trẻ em được gọi là ban đỏ nhiễm khuẩn (erythema infectiosum), hay còn gọi là bệnh thứ năm (fifth disease), đặc trưng bởi sốt và một đốm phát ban “khuôn mặt bị tát*” ở trên má.
28.5. Bảng Tóm Tắt Về Các Loại Virus ADN Khác

Bài viết được dịch từ sách ” Clinical Microbiology made ridiculously simple 

Xem tất cả bài biết   tại: https://ykhoa.org/category/khoa-hoc/vi-sinh-lam-sang/

Advertisement
Print Friendly, PDF & Email

Giới thiệu Lac Thu

Check Also

[Vi sinh lâm sàng 23] Virus viêm gan

Advertisement Viêm gan do virus là một loại nhiễm khuẩn lên các tế bào gan …